Đáp án và bộ đề thi thử THPT quốc gia ngữ văn đề số 28

0
33
Rate this post

Hôm nay chúng tôi sẽ chia sẻ đến bạn đáp án và bộ đề thi thử THPT quốc gia môn Ngữ Văn đồ số 28 để các bạn hiểu rõ hơn cũng như ôn luyện tốt hơn cho kỳ thi THPT sắp tới nhé.

Đáp án và bộ đề thi thử THPT quốc gia ngữ văn đề số 28

PHẦN ĐỌC HIỂU( 3 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Ngụ ngôn của mỗi ngày

Ngồi cùng trang giấy nhỏ
Tôi đi học mỗi ngày

Tôi học cây xương rồng
Trời xanh cùng nắng, bão
Tôi học trong nụ hồng
Màu hoa chừng rỏ máu

Tôi học lời ngọn gió
Chẳng bao giờ vu vơ
Tôi học lời của biển
Đừng hạn hẹp bến bờ

Tôi học lời con trẻ
Về thế giới sạch trong
Tôi học lời già cả
Về cuộc sống vô cùng

Tôi học lời chim chóc
Đang nói về bình minh
Và trong bia mộ đá
Lời răn dạy đời mình

Đỗ Trung Quân

 

  1. Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? Phương thức biểu đạt chính là gì?
  2. Chỉ ra biện pháp tu từ nổi bật được sử dụng trong văn bản?
  3. Theo anh/ chị, tác giả đã học được những bài học gì trong các câu:

Tôi học cây xương rồng
Trời xanh cùng nắng, bão
Tôi học trong nụ hồng
Màu hoa chừng rỏ máu

  1. Đọc văn bản, anh/ chị hiểu như thế nào về ý nghĩa của nhan đề: Ngụ ngôn của mỗi ngày?

PHẦN LÀM VĂN: ( 7 điểm)

Câu 1 (3 điểm):

Viết một đoạn văn ( khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về quan niệm học của nhà thơ Đỗ Trung Quân trong phần Đọc hiểu?

Câu 2 (5 điểm):

Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được…

                                                          ( Trích Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh)

Anh/ chị hãy phân tích đoạn trích trên để thấy tài năng của Hồ Chí Minh khi viết đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập?

 

HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN 

PhầnI. Đọc hiểu( 3 điểm)

Về kĩ năng:

– Biết cách làm câu hỏi dạng tái hiện kiến thức, bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, vận dụng tốt các thao tác lập luận.

– Biết cách viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề, bố cục rõ ràng, vận dụng tốt các thao tác lập luận

– Bài viết trong sáng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

Về kiến thức:  Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật; Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm

2.

Biện pháp tu từ nổi bật: Điệp cấu trúc: Tôi học…; Tôi học lời…

3.

Tác giả học được những bài học quý từ thiên nhiên: cây xương rồng cho bài học về nghị lực sống trong môi trường rộng lớn (trời xanh) và khắc nghiệt(nắng bão); nụ hồng cho bài học về những gì đẹp đẽ (màu hoa) có khi phải trả giá bằng cả nỗi đau( rỏ máu).

4.

Ý nghĩa nhan đề: Những bài học của mỗi ngày. Mỗi ngày, cuộc sống quanh ta đều mang đến cho ta những bài học quý báu như những câu chuyện ngụ ngôn vậy.

Phần II ( 7 điểm). 

Câu 1:

  1. Về kĩ năng:

– Có kĩ năng viết một đoạn văn khoảng 200 chữ.

– Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

  1. Về nội dung: Hsinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:Quan niệm về việc học của Đỗ Trung Quân:
  • Là quan niệm đúng đắn về việc học. (0,5 điểm)
  • Học không chỉ ở trên trường lớp, trong sách vở mà còn là hành trình mỗi người tự trải nghiệm và khám phá từ cuộc sống. Thiên nhiên, con người quanh ta luôn là người thầy vĩ đại dạy cho ta những bài học vô giá. Bởi học không phải chỉ là tiếp thu tri thức mà còn là quá trình làm giàu cho tâm hồn bằng lòng yêu thương rộng lớn như biển cả, bằng nghị lực ý chí vượt chông gai, bằng sự biết ơn,…Tất cả điều đó chỉ có cuộc sống mới dạy ta đầy đủ và ý nghĩa nhất. Cuộc sống là trường đại học của mỗi người. (1điểm)
  • Học là quá trình chúng ta trau dồi thường xuyên, mỗi ngày. Hãy mở lòng mình với cuộc sống và con người quanh ta để thấy yêu hơn cuộc sống này và nhận những bài học ý nghĩa mà cuộc sống dạy ta. (0,5 điểm)

 

Câu 2:

Về kĩ năng:

– Biết cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề văn học, bố cục rõ ràng, vận dụng tốt các thao tác lập luận.

– Biết cách chọn và phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận.

– Bài viết mạch lạc, trong sáng,cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

Về kiến thức:

Hsinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

NỘI DUNG

1

I/ Mở bài : Giới thiệu tác phẩm, giới thiệu đoạn trích. 0.5

2

II. Thân bài:

1.     – Khái quát hoàn cảnh, mục đích sáng tác, đối tượng tiếp nhận của tác phẩm

-Vị trí và vai trò của đoạn trích: Là đoạn mở đầu, có vai trò đặt vấn đề cho bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc ta.

2.     Hồ Chí Minh đã viết rất cao tay, thể hiện tài năng xuất chúng của Bác:

– Nhiệm vụ của phần mở đầu bản Tuyên ngôn là nêu nguyên lí làm cơ sở tư tưởng cho toàn bài. Nguyên lí của Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc. Nhưng ở đây Bác không nêu trực tiếp nguyên lí ấy mà dẫn lời hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791 để khẳng định “Quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” của tất cả các dân tộc.
-Ý nghĩa sâu sắc:

+ Dẫn dắt 2 bản tuyên ngôn nổi tiếng đã thành những chân lí tiến bộ được cả thế giới thừa nhận, Hồ Chí Minh đã tạo sức thuyết phục cho phần đặt vấn đề gián tiếp, thể hiện tầm hiểu biết rộng của Bác.

+ Bác đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính những lời lẽ của tổ tiên người Mĩ, người Pháp đã ghi lại trong hai bản Tuyên ngôn từng làm vẻ vang cho truyền thông tư tưởng và văn hoá của những dân tộc ấy. Cách viết như thế là vừa khéo léo vừa kiên quyết:

Khéo léo vì tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ để “khóa miệng” bọn thực dân Pháp, đế quốc Mĩ đang âm mưu xâm lược nước ta.

Kiên quyết vì đã lấy “ gậy ông đập lưng ông”, nhắc nhở họ đừng có phản bội tổ tiên mình, đừng có làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của chính cha ông họ.

+Đoạn mở đầu bản Tuvên ngôn Độc lập của Việt Nam mà nhắc đến hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử của nhân loại, của hai nước lớn, như thế cũng có nghĩa là đặt ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, ba nền độc lập ngang hàng nhau, ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau (và thực sự, cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 đã giải quyết đúng nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng của Mĩ (1776) và của Pháp  (1791). Đằng sau nghệ thuật viết văn nghị luận là một niềm tự hào dân tộc chan chứa của HCM.
+ Sau khi nhắc đến quyền tự do,bình đẳng của mỗi người trong bản Tuyên ngôn Độc lập cùa Mĩ, Bác viết: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Ý kiến “suy rộng ra” ấy quả là một đóng góp đầy ý nghĩa của Bác đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, nó như phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kỉ XX
– Nghệ thuật: mở đầu bằng lời hô gọi thu hút: Hỡi đồng bào cả nước và kết thúc phần đặt vấn đề bằng một câu khẳng định chắc nịch: Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. Lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng tiêu biểu, giọng văn hùng hồn, đoạn văn mở đầu đã nhấn mạnh cơ sở pháp lí vững chắc cho lời tuyên bố độc lập ở phần sau.

III. Kết bài: Khẳng định lại Đoạn mở đầu Tuyên ngôn Độc lập của Bác chứa đựng một tư tưởng lớn với nhiều ý nghĩa sâu sắc, lại được viết bằng một nghệ thuật cao tay, mang sức thuyết phục mạnh mẽ. Đó là đoạn mở đầu mẫu mực trong một bản Tuyên ngôn bất hủ. 0,5

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here