[Ôn Thi Đại Học Môn Văn Phần 3] Cảm nhận gì về linh hồn sông nước quê hương trong bài Tràng giang của nhà thơ Huy Cận

0
16

Trước cách mạng, thơ Huy Cận thường biểu hiện nỗi “sầu vạn kỉ”. Ông hay nói về vũ trụ, về không gian bao la dường như vĩnh cữu. Thơ Huy Cận hàm súc vừa có tính cổ điển, vừa giàu chất suy tưởng, triết lý.

 Trong những sáng tác Huy Cận trước cách mạng, đáng chú ý hơn cả là tập Lửa thiêng (1940)- tập thơ đưa tác giả lên thành một trong những cây bút tiêu biểu cho giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của phong trào thơ Mới.

Tràng Giang được in trong tập Lửa thiêng (1940) là một trong những bài thơ hay tiêu biểu nhất trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Huy Cận.

Theo tác giả, tứ thơ Tràng giang, được hình thành vào một buổi chiều mùa thu 1939, khi nhà thơ đứng ở bờ nam bến Chèm (Hà Nội), nhìn cảnh sông Hồng mênh mông sông nước, bốn bề bao la vắng lặng, nghĩ về kiếp ngưòi trôi nổi. Tuy sửa đi sửa lại tới 17 lần, nhưng hai câu đầu vẫn được giữ nguyên.

Mới đọc, có khi nhầm Tràng Giang là một bài thơ thuần tuý tả cảnh thiên nhiên. Nhưng nghiền ngẫm cho kỹ mới thấy điều tác giả muốn nói đến trong bài thơ này tuyệt nhiên không phải là cái hữu hình, nhất thời; mà là cái vô hình, cái vĩnh viễn. Đúng như Hoài Thanh đã khẳng định: “Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng người luôn luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong”. Cái “thế giới bên trong”, cái linh hồn của tạo vật trong bài Tràng giang là nỗi buồn xa vắng mênh mông.

Dòng sông và con người, không gian bao la và tâm trạng cụ thể; đó là một tứ thơ cổ điển:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song,

Bài thơ có tựa đề Tràng giang, câu thơ đầu tiên lại nhắc lại tựa đề. Tràng giang chứ không phải Trường giang; mặt dù Trường giang và Tràng giang đều có cùng một ngữ nghĩa. Cách điệp vần ang, Tràng giang góp phần tạo nên dư âm vang xa, trầm lắng của câu thơ mở đầu, tạo nên âm hưởng chung cho toàn bộ giọng điệu của cả bài thơ. Mặt khác, Tràng giang còn gợi lên hình ảnh một con sông dài và rộng, vừa là trường giang, vừa là đại giang. Phải chăng, đấy là sông Hồng, hoặc sông Cửu Long, bền bỉ muôn đời, đã từng chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử? Và suy cho cùng, sức mạnh của hai câu thơ trên không phải là nghệ thuật miêu tả, mà ở nghệ thuật khêu gợi; khêu gợi được cả xúc cảm và ấn tượng về một nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian (tràng giang), và theo thời gian (điệp điệp).

Huy Cận cũng như phần đông các thi sĩ trong phong trào Thơ mới đều chịu ảnh hưởng khá rõ của thơ tượng trưng phương Tây thế kỷ XIX. Trong bài Tình trai, Xuân Diệu đã tự ví mình và Huy Cận như là đôi bạn Rem-bô và Véc-len của thơ ca Pháp “Tôi nhớ Rem-bô với Véc-len- Hai chàng thi sĩ choáng hơi men – Say thơ xa lạ mê tình bạn – Khinh rẻ khuôn mòn bỏ lối quen”… Tuy vậy, Huy Cận còn là người rất thích thơ Đường và trân trọng vốn thơ ca dân tộc. Ngay từ tuổi thiếu niên, tác giả đã thuộc lòng khá nhiều ca dao, thơ của Nguyên Du, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu…. Trong sáng tác của ông, người đọc ít nhiều cảm nhận được dấu ấn của Đường thi, cũng như thơ tượng trưng Pháp. Có điều đáng quý là chúng đã được Việt hoá, nói cho đúng hơn là đã được Huy Cận hoá.

Ở khổ thơ đầu, cũng như toàn bộ bài Tràng giang, nghệ thuật đối của thơ Đường đã được vận dụng hết sức linh hoạt, chủ yếu đối về ý, chứ không bị câu thức về niêm, luật như cách đối trong thơ cổ. Chẳng hạn “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”, có thể coi là đối với “Con thuyền xuôi mái nước Song song”; “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”, đối với: “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”. Hoặc, ở một cấp độ khác: “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; -Mênh mông không một chuyến đò ngang” lại cũng có thể đối với “Không cầu gợi chút niềm thân mật, – lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…

Nghệ thuật đối ý (và đối xứng) nói lên, một mặt, làm cho giọng điệu của bài thơ uyển chuyển, linh hoạt, (tránh được sự khuôn sáo, cứng nhắc dễ thấy đối với một số bài thơ Đường luật hồi đầu thế kỷ); mặt khác, vẫn phát huy được một trong những thế mạnh của loại thơ này, tạo nên không khí trang trọng cổ điển. Bên cạnh đó, nghệ thuật dùng từ láy như “điệp điệp”, “song song” cũng có hiệu quả nhất định gợi âm hưởng cổ kính. Nhưng Tràng giang vẫn là một bài thơ hiện đại. Trước hết, hiện đại ở hình ảnh, ở thi liệu, ở cảm xúc:

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Vào những năm 30, đây là những câu thơ mới mẻ; bởi trong đó xuất hiện cái tầm thường nhỏ nhoi, vô nghĩa như “củi một cành khô”. Thơ xưa chủ yếu là địa hạt giành riêng cho những “tao nhân mặc khách”; hầu như thiếu vắng cái hiện thực khô ráp của đời thường. Đến thời Thơ Mới, nó mới xuất hiện, góp phần tạo nên “cuộc cách mạng trong thơ” (Hoài Thanh). Hình ảnh một cành củi khô đơn lẻ trôi bồng bềnh, trên dòng sông mênh mông sóng nước gợi lên nỗi buồn về kiếp người nhỏ bé, vô định.

Đến khổ thơ thứ hai, nỗi buồn càng như thấm sâu vào cảnh vật:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu 
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều,
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Theo Huy Cận, từ “đìu hiu” ông học được trong bản dịch Chinh phụ ngâm: “Non kỳ quạnh quẽo trăng leo – Bến Phà gió thổi đìu hiu mấy gò”. Cặp từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” gợi lên sự buồn bã, quạnh vắng, cô đơn… Chợ chiều thường buồn tẻ, không có được cái nhộn nhịp, hào hứng của chợ sáng, chợ trưa. Đoàn Văn Cừ đã đặc tả thành công nét buồn này bằng những câu kết của bài thơ Chợ Tết nổi tiếng: “Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê – Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ”. Trong Tràng giang, tiếng chợ chiều đã vãn từ một làng xa nào vẳng lại gợi một không khí buồn vắng, cô tịch:

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Đây là mấy câu thơ có giá trị tạo hình. Không gian được mở rộng, và đẩy cao thêm. “Sâu” gợi ở người đọc ấn tượng thăm thẳm, hun hút khôn cùng. “Chót vót” gợi tả chiều cao vô tận. Càng rộng, càng sâu, càng cao, thì cảnh vật càng thêm vắng lặng, chỉ có sông dài, với bến bờ lẻ loi xa vắng (cô liêu). Nỗi buồn tựa hồ thấm vào không gian ba chiều. Con người trở nên bé nhỏ, có phần rợn ngợp trước vũ trụ vĩnh hằng, rộng lớn, không khỏi thấy “lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian”.

Ấn tượng nói trên lại được tô đậm thêm ở khổ thơ tiếp theo:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang 
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

vẫn trong mạch cảm xúc ở hai khổ đầu, nỗi buồn càng được khắc sâu qua hình ảnh những cánh bèo trôi dạt lênh đênh. Bên cạnh những hình ảnh thu yến và nước như cùng trôi về cõi vô biên, hình ảnh cành củi khô bập bềnh trên sông nước ở khổ một, đến khổ thơ này, ấn tượng về sự ly tán, tan tác được láy lại một lần nữa, càng gợi thêm một nỗi buồn mênh mông. Toàn cảnh sông dài, tròi rộng tuyệt nhiên không có bóng con người; “không một chuyến đò”, đồng thời cũng không có lấy một cây cầu – nhờ chúng có thể tạo nên sự gần gũi giữa con người, với con người; mà chỉ có thiên nhiên (bờ xanh) nối tiếp với thiên nhiên (bài vàng) xa vắng, hoang sơ.

Như vậy, sự cô quạnh đã được thi sĩ đặc tả độc đáo bằng chính cái không tồn tại. Thực ra, điều này còn có thể nhận thấy ở khổ bốn (“Không khói hoàng hôn…”), nhưng rõ nhất vẫn là ở khổ ba. Bởi vậy, có thể nói, thái độ phủ định thực tại của tác giả nằm ngay ở trong kết cấu của bài thơ.

Khổ kết bài thơ mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường, mà vẫn giữ được nét riêng biệt của Thơ Mới, và vẫn thể hiện nét độc đáo của hồn thơ Huy Cận:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiềụ sa,
Lòng quê dợn dợn vời con nước, 
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Thiên nhiên buồn, như cũng thật tráng tệ. Mùa thu, những đám mây trắng đùn lên trùng điệp ở phía chân trời. Ánh dương phản chiếu trông lấp lánh như những núi bạc. Nét đặc trưng này của mùa thu đã được Đỗ Phủ mô tả trong bài Thu hứng “Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng -Tái thượng phong vân tiếp địa âm”, Nguyễn Công Trứ đã dịch một cách tài hoa: “Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm – Mặt đất mây đùn cửa ải xa”. Lấy lại ý thơ của người xưa, hình ảnh “mây cao đùn núi bạc” tạo được ấn tượng về sự hùng vĩ của thiên nhiên. Trước cảnh sông nước mây trời bao la và hùng vĩ ấy, bỗng hiện lên một cánh chim bé bỏng, nó chỉ cần nghiêng cánh là cả bóng chiều sa xuống. Hình ảnh cánh chim đơn lẻ, trong một buổi chiều ta cũng dễ gợi lên một nỗi buồn xa vắng. (Chim hôm thoi thóp về rừng – Đoá trà mi đã ngậm trăng nửa vành. Truyện Kiều – Nguyễn Du). Nhưng điều đáng nói hơn ở đây chính là hiệu quả của nghệ thuật đối lập; đối lập giữa cánh chim nhỏ bé với vũ trụ bao la, hùng vĩ. Phải chăng, điều này đã làm cho cảnh thiên nhiên rộng hơn, thoáng hơn, hùng vĩ hơn và đặc biệt cũng buồn hơn?.

Như vậy, đi suốt bài thơ là một nỗi buồn triền miên, vô tận. Nỗi buồn ở bài thơ này là một nỗi buồn triền miên, vô tận. Nỗi buồn ở bài thơ này cũng như phần nhiều nỗi buồn của các nhà thơ Mới, trước hết, chính là nỗi buồn của cả thế hệ, của cả dân tộc, trong những năm ngột ngạt, dưới thời thuộc Pháp. Và chăng, có lẽ nỗi buồn nói trên còn xuất phát từ chính quan niệm mĩ học của các nhà thơ lãng mạn đương thời. Bôđơle, người được Rembô mệnh danh là “hoàng đế của các nhà thơ”, đã từng có câu thơ nổi tiếng: “Em cứ đẹp, và em mãi buồn”. Và chăng, cái buồn trong sáng, góp phần làm phong phú thêm tâm hồn của bạn đọc; nó cũng như “cái buồn đã làm nên sức hấp dẫn mê hồn của thơ ca dân gian Nga”, như Biêlinxki đã nhận xét.

Bài thơ có ý vị cổ điển, tạo nên được những vang hưởng kỳ lạ do tác giả đã chọn được thể thơ thích hợp (gần với thể cổ phong), vận dụng tự nhiên lối đôi, sử dụng có hiệu quả, với tần số cao, hệ thống từ láy (10 lần trong 16 dòng thơ ), và cách ngắt nhịp truyền thống…Chất cổ điển đặc biệt rõ ở câu kết. Thôi Hiệu nhìn khói sóng nhớ đến quê hương (“Nhật mộ hương quan hà xứ thị?- Yên ba giang thượng sử nhân sâu”- Hoàng Hạc lâu, Tản Đà dịch: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn – Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”. Huy Cận không cần có “khói sóng”- không cần có ai gợi nhớ- mà lòng vẫn ”dợn dợn” nhớ nhà. Rõ ràng, nỗi nhớ của Huy Cận da diết hơn, thường trực hơn và cháy bỏng hơn; do đó, hiện đại hơn!

Cổ kính, trang nghiêm, Tràng giang còn là một bài thơ rất Việt Nam. Dòng sông sóng gợn, con thuyền xuôi mái chèo, cành củi khô bồng bềnh, cánh bèo lênh đênh, chợ chiều của làng quê, cánh chim trong buổi chiều tà …thật gần gũi với người Việt Nam chúng ta. Đọc bài thơ này, nhiều người nhớ đến cái làng sơn cước heo hút bên bờ sông Thâm, cạnh núi Mồng gà, thuộc đất Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nơi chôn rau cắt rốn của nhà thơ. Suy cho cùng, “Tràng giang là một bài thơ ca ngợi non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc”

 

Xem thêm các bài viết về bài Tràng Giang – Huy Cận TẠI ĐÂY

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here