Tổng hợp đề đọc hiểu – nghị luận xã hội ôn thi THPT Quốc gia 2018

0
1405
Rate this post

 

 Tổng hợp đề đọc hiểu – nghị luận xã hội ôn thi THPT Quốc gia 2018

Đề 1: Đề đọc hiểu về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Ngày xưa có một em bé gái đi tìm thuốc chữa bệnh cho mẹ. Em được Phật trao cho một bông cúc. Sau khi dặn em cách làm thuốc cho mẹ, Phật nói thêm: “ Hoa cúc có bao nhiêu cánh, người mẹ sẽ sống thêm bấy nhiêu năm”. Vì muốn mẹ sống thật lâu, cô bé dừng lại bên đường tước cánh hoa ra thành nhiều cánh nhỏ. Từ đó hoa cúc có rất nhiều cánh…Ngày nay cúc vẫn được dùng để chữa bệnh. Tên y học của cúc là Liêu chi.

( Theo Almanach người mẹ và phái đẹp, NXB Văn hóa – Thông tin, 1990)

  1. Đoạn văn giải thích điều gì?
  2. Hãy đặt tiêu đề cho đoạn văn.
  3. Đoạn văn sử dụng phương thức biểu đạt nào là chính?
  4. Thông điệp mà tác giả muốn nhắn gửi trong đoạn văn trên là gì? Từ thông điệp đó anh( chị) hãy viết một đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân đối với cha mẹ?

Đáp án :

Cần nêu được các nội dung cơ bản sau:

1.Đoạn trích nhằm giải thích tại sao hoa cúc có nhiều cánh.( 0,5 điểm)

2.Có thể đặt tiêu đề cho đoạn trích:  Vì sao hoa cúc có nhiều cánh (hoặc) Sự tích hoa cúc.( 0,5 điểm)

  1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích là phương thức tự sự.

( 0,5 điểm)

  1. Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm trong đoạn trích là: lòng hiếu thảo của người con đối với mẹ.( 0,5 điểm)

Đoạn văn  bày tỏ suy nghĩ  về trách nhiệm của bản thân đối với cha mẹ có thể có các ý sau: ( 1,0 điểm)

  • Cha mẹ là người đã sinh thành, nuôi dưỡng dạy bảo chúng ta nên người.
  • Bổn phậm làm con phải yêu thương kính trọng cha mẹ, chăm sóc cha mẹ khi ốm đau, tuổi già, sức yếu.
  • Ra sức học tập và rèn luyện để trở thành người  có ích cho gia đình và xã hội.
  • Phê phán những hành vi ngược đãi, đối xử thô bạo đối với cha mẹ.

 Đề 2:  Đọc hiểu văn bản Tuyên ngôn độc lập Ngữ văn 12

 Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

                           ( Trích Tuyên ngôn độc lập- Hồ Chí Minh, Ngữ văn 12, tập 1)

Trả lời câu hỏi

  1. Xác định biện pháp tu từ, phong cách ngôn ngữ trong đoạn văn bản trên?
  2. Việc nhà văn láy đi láy lại “sự thật” ấy có chủ ý gì?
  3. Từ quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, anh, chị hãy viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 150-200 từ) bày tỏ suy nghĩ về tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ ngày nay?

Đáp án Đọc hiểu
1. Biện pháp điệp từ : “sự thật” có tác dụng khẳng định, nhấn mạnh quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.
2. Phong cách ngôn ngữ trong đoạn văn bản trên là phong cách chính luận.

3. Việc nhà văn láy đi láy lại “sự thật” ấy có chủ ý : Bác bỏ luận điệu xảo trá của thực dân Pháp trước dư luận thế giới. Thuyết phục Đồng minh nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới ủng hộ nền độc lập của Việt Nam.

4. Học sinh viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ ngày nay? ( khoảng 150-200 từ)
Câu này kiểm tra năng lực viết bài văn nghị luận xã hội của học sinh. Học sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng, được tự do bày tỏ quan điểm của mình, nhưng phải có thái độ chân thành, nghiêm túc phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội. Các ý của bài như sau.
– Trân trọng, biết ơn thế hệ cha anh đã chiến đấu, hi sinh để bảo vệ đất nước.
– Ra sức học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Đề 3: Đề đọc hiểu đoạn mở đầu bài Bình Ngô Đại Cáo Nguyễn Trãi

 Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

           Quân điếu phạt(*) trước lo trừ bạo.

           Như nước Đại Việt ta từ trước,

           Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

           Núi sông bờ cõi đã chia,

           Phong tục Bắc Nam cũng khác.

          Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,

          Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.

          Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

          Song hào kiệt đời nào cũng có.

(Trích Đại cáo bình Ngô – Nguyễn Trãi, bản dịch của Bùi Kỉ, Ngữ văn 10, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr. 17)

Chú thích: (*) Điếu phạt: (điếu: thương, phạt: trừng trị) rút từ ý “Điếu dân phạt tội” nghĩa là thương dân, đánh kẻ có tội.

Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau:

  1. Văn bản đã xác định nền độc lập, chủ quyền của nước Đại Việt ở những yếu tố nào?
  2. Việc sử dụng những từ ngữ: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, bao đời nhằm khẳng định điều gì?
  3. Từ việc đọc hiểu văn bản trên, hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh/chị về việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước ta hiện nay.

 

Đáp án

  1. Yêu cầu về kĩ năng

– Thí sinh có kĩ năng đọc hiểu văn bản;

– Diễn đạt rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

  1. Yêu cầu kiến thức

Câu 1 (0,5 điểm)

Văn bản đã xác định nền độc lập, chủ quyền của nước Đại Việt qua các yếu tố: nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ riêng, phong tục tập quán riêng, lịch sử với các triều đại riêng.

Câu 2 (0,5 điểm)

Việc sử dụng những từ ngữ: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, bao đời đã khẳng định được tính chất hiển nhiên, vốn có, lâu đời về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt.

Câu 3 (1,0 điểm)

Từ việc đọc hiểu văn bản, viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ của bản thân về việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước ta hiện nay. Sau đây là một số gợi ý:

– Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước là trách nhiệm, bổn phận của mỗi người dân Việt Nam.

– Phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, kiên quyết ngăn chặn mọi sự xâm phạm chủ quyền đất nước.

– Dân tộc ta có chính nghĩa, có sức mạnh của lòng yêu nước, có ý chí chiến đấu ngoan cường, có sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới chắc chắn sẽ bảo vệ được chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

(Lưu ý: Với câu 1 và câu 2, thí sinh có thể viết thành đoạn văn hoặc trình bày các ý theo cách gạch đầu dòng; với câu 3, thí sinh phải viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh thì mới đạt điểm tối đa).

Đề 4: Đề đọc hiểu và nghị luận xã hội chủ đề tình yêu biển đảo quê hương

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi :

“ Trên bãi cát những người lính đảo

Ngồi ghép nhau bao nỗi nhớ nhà

Chiều áo rộng vài vạt mây hờ hững

Họ cứ ngồi như chum vại hứng mưa.

Đảo tái cát

Khóc oan hồn trôi dạt

Tao loạn thời bình

Gió thắt ngang cây.

Đất hãy nhận những đứa con về cội

Trong bao dung bóng mát của người

Cây hãy gọi bàn tay về hái quả

Võng gọi về nghe lại tiếng à ơi…

À ơi tình cũ nghẹn lời

Tham vàng bỏ ngãi kiếp người mong manh”.

Lời của sóng 4, Trích Trường ca Biển, Hữu Thỉnh, đạt giải Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2012 )

Câu I: (0, 5 điểm): Xác định thể loại của đoạn trích trên? Trình bày lí do tại sao nhà thơ Hữu Thỉnh lại chọn thể loại đó ?

Câu II : ( 1,0 điểm)

    Nêu cácphép liên kết có sử dụng trong đoạn trích và chỉ ra tác dụng ý nghĩa của các phép liên kết đó.

Câu III: ( 0, 5 điểm)

Từ những vần thơ trên, anh/ chị hãy kể tên những hòn đảo, quần đảo thiêng liêng của đất nước ta qua sự hiểu biết của anh/ chị ?

Câu IV: ( 1,0 điểm)

Hình ảnh những người lính đảo trong đoạn trích trên hiện lên như thế nào ? Trình bày suy nghĩ của anh/ chị khoảng 5 -7 dòng.                                                        

LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 : Nghị luận xã hội (2,0 điểm)

Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về

                                   Tình yêu biển đảo quê hương

Đáp án :

Câu1 – thể thơ tự do.
– Hữu Thỉnh lựa chọn thể thơ đó vì : Tác phẩm của Hữu Thỉnh được viết theo thể loại trường ca, dùng thể thơ tự do sẽ đem đến một cách viết phóng khoáng, tuôn chảy theo dòng cảm xúc của nhà thơ, không phụ thuộc vào những quy tắc lề lối của câu chữ. Đề tài nhà thơ hướng tới là biển đảo quê hương, sử dụng thể thơ tự do phù hợp để nói đến những cảm xúc mênh mang, rộng lớn và phong phú của đề tài.

Câu 2 – Phép thế : “những người lính đảo” thành “ họ” và những đứa con, “đất” thành “người”.
-Phép lặp : Lặp từ : “à ơi”
– Giá trị của các phép liên kết: Thể hiện nội dung thống nhất của đoạn trích nói về hình ảnh những người lính đảo bình dị, chân thật khi nhớ về những kỉ niệm quê nhà.

Câu 3 Học sinh trình bày theo suy nghĩ của mình nhưng phải hợp lí.Có thể tham khảo một số gợi ý sau : Đảo Trường sa, Hoàng Sa, Thổ Chu, Phú Quốc, Gạc Ma….

Câu 4 Học sinh trình bày theo suy nghĩ của mình nhưng phải hợp lí.Có thể tham khảo một số gợi ý sau.

– Những người lính đảo nhớ quê nhà với những điều không thể nào quên, đó là hậu phương của những người lính đảo giàu tình nghĩa điều đó là động lực cho các anh chiến đấu.
– Ca ngợi và hướng con người đến lối sống trọng tình nghĩa của người Việt. Điều này thể hiện ở việc thương nhớ và tưởng niệm những người đã khuất,luôn hướng về cội nguồn “À ơi tình cũ nghẹn lời . Tham vàng bỏ ngãi kiếp người mong manh.”
– Những người lính đảo đã hi sinh lợi ích cá nhân như xa gia đình quê hương, chấp nhận những thiếu thốn về vật chất…để canh giữ biên cương cho Tổ quốc.
– Mỗi người cần có thái độ ngợi ca trân trọng trước những đóng góp của những người lính đảo.

Đề 5: Đề đọc hiểu :Câu chuyện về dòng chảy của các con sông

Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Trong giờ học, một vị thiền sư chỉ vào một bản đồ và hỏi: “Các dòng sông trên hình ảnh này có đặc điểm gì?”. Các môn đồ trả lời: “Chúng luôn lượn vòng thay vì chảy theo một đường thẳng”. Vị thiền sư lại tiếp tục hỏi: “Tại sao như vậy? Nói cách khác, tại sao những con sông này không đi thẳng mà cứ phải đi đường vòng?”. Mọi người bắt đầu thảo luận: “Vì khi đi đường vòng, sông sẽ được kéo dài nên chứa được nhiều nước hơn. Hoặc nhờ thế mà khi lũ mùa hè kéo đến, nước sông sẽ không bị dâng quá cao và tràn ra ngoài”. Một người khác lại nói: “Bởi vì con sông trải dài nên lưu lược nước trên mỗi khúc sông tương đối thấp, áp lực dưới đáy sông cũng giảm đi. Điều này góp phần quan trọng trong việc bảo vệ bờ sông,…”. “Tất cả mọi người đều nói đúng”, vị thiền sư nói: “còn bản thân tôi thì cho rằng, sông không đi đường thẳng mà phải đi đường vòng, đơn giản chỉ vì đi đường vòng là chuyện bình thường, đi đường thẳng mới là chuyện khác thường. Bởi hành trình của mình, các con sông sẽ phải gặp nhiều và đa dạng trở ngại, có cái vượt qua được, có cái không. Nên con sông chỉ có thể đi vòng để tránh các chướng ngại. Mục đích cuối cùng là hòa vào biển khơi”.

(Theo webtretho.com)

Câu 1. Nêu phương thức biểu đạt chủ yếu của đoạn văn trên. (0,5 điểm)

Câu 2. Câu chuyện về dòng chảy của các con sông gợi cho anh/ chị liên tưởng đến lối sống nào của con người? (1.0 điểm)

Câu 3. Anh/ chị hãy đặt nhan đề cho đoạn văn trên. (0,5 điểm)

Câu 4. Nêu ý nghĩa của lối sống trong cuộc đời bằng một đoạn văn (khoảng 5 đến 7 dòng). (1.0 điểm)

Đáp án. Hướng dẫn chấm

Câu 1.Trả lời theo một trong các cách: Phương thức biểu đạt tự sự/ tự sự.
– Trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 2. Câu chuyện về dòng chảy của các con sông gợi liên tưởng đến lối sống:
+ Không khuất phục trước gian nan, thử thách luôn kiên trì tiến về phía trước như dòng sông kia tiến về biển khơi bao la. (0,25 điểm)
+ Cuộc sống của chúng ta cũng sẽ có lúc đối diện với những khó khăn, trắc trở, không bi quan, tuyệt vọng, không thở dài, buồn phiền hay bỏ cuộc mới là thái độ sống đúng đắn. (0,25 điểm)
– Trả lời đúng các ý trên hoặc diễn đạt theo cách khác nhưng hợp lí, diễn đạt gọn, trong sáng;
– Trả lời đúng, hợp lí song diễn đạt chưa thật trong sáng.
– Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:
+ Câu trả lời chung chung, không rõ ràng, không thuyết phục;
+ Trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 3. Nhan đề cho đoạn văn bản: Chuyện của những dòng sông
– Thí sinh có thể trả lời nhan đề khác nhưng miễn hợp lí vẫn cho điểm.
– Trả lời không hợp lí hoặc không trả lời
Câu 4. Nêu ý nghĩa của lối sống trong cuộc đời:
+ Để đi đến thành công con người phải trải qua nhiều khó khăn, trắc trở. Lòng kiên trì giúp chúng ta có được sức mạnh vượt qua những khó khăn, không rơi vào trạng thái tuyệt vọng, bi quan.
+ Kiên định với mục tiêu, rút ra những bài học từ thất bại để đi đến thành công không phải là con đường đơn giản nhưng sẽ thật vinh quang cho những ai dám sống và dám dấn thân vì mục tiêu đẹp mà mình đã lựa chọn.

Đề 6: Đề đọc hiểu và NLXH suy nghĩ về cơ hội trong cuộc sống

I.ĐỌC HIỂU ( 3 điểm)      

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4

Cuộc đời của tôi là một chuỗi nếu như. Từ nhỏ, tôi chỉ muốn làm một ông chủ trại như bố tôi, và không chịu học nếu như mẹ tôi không bắt tôi sống ở Luân Đôn. Tôi sẽ trượt trong kì thi đại học y, nếu như tôi không phải là một thanh niên giỏi bơi lội, có thể đại diện cho nhà trường trong những kỳ thi Olympic thể thao của sinh viên. Tôi sẽ suốt đời làm một thầy thuốc nông thôn, nếu như giáo sư Wright không chọn tôi làm phụ tá cho ông tại phòng thí nghiệm riêng, nơi tôi tìm ra Pênêxilin. Phát minh này tôi dự tính phải 15 – 20 năm mới triển khai được trong thực tế, nếu như chiến tranh thế giới không xảy ra, thương vong nhiều đến mức các loại thuốc chưa kiểm tra cũng được phép sử dụng, thì Pênêxilin chưa chứng minh được công hiệu của mình và bản thân tôi chưa được giải Nôben.

Hóa học ngày nay – 3/1993

Câu 1:  Xác định cách thức diễn đạt ( lối diễn đạt) của văn bản( 0.5 điểm)

Câu 2: Chỉ ra thao tác lập luận chính trong văn bản? (0.5 điểm)

Câu 3: Tại sao tác giả lại khẳng định cuộc đời của tác giả là một chuỗi nếu như?     ( 1.0 điểm)

Câu 4: Anh/ chị rút ra thông điệp gì từ văn bản? ( 1.0 điểm)

LÀM VĂN ( 7 điểm)

 Câu 1: ( 2 điểm) Nghị luận xã hội

       Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về cơ hội trong cuộc sống.

Đáp án :

Phần đọc hiểu văn bản :

Câu 1: Cách thức diễn đạt: Diễn dịch 0.5
Câu 2: Thao tác lập luận: Chứng minh 0.5
Câu 3: Tại sao tác giả lại khẳng định cuộc đời của tác giả là một chuổi nếu như?
Vì cuộc đời của tác giả là do hoàn cảnh sống, những cơ hội mang lại. Tác giả đã dùng hết tài năng để tận dụng cơ hội đó tạo nên thành tựu phục vụ cho cuộc sống con người. Cuộc sống chính là cơ hội, điều quan trọng ở mỗi người là có biết tận dụng cơ hội đó tạo nên thành công. 1.0
Câu 4:Anh/ chị rút ra thông điệp gì từ văn bản?
Qua văn bản, tác giả muốn gửi đến thông điệp rằng mỗi tình huống trong cuộc sống là cơ hội để con người phát huy tài năng, tận dụng cơ hội học tập và sáng tạo lập nên những thành tích phục vụ cho cuộc sống con người. Bản thân tôi hiểu rằng, nắm bắt cơ hội và nỗ lực phấn đấu học tập lao động là điều quan trọng tạo nên thành công trong cuộc sống.
Phần II: Làm văn ( 7 điểm)

Câu 1 Nghị luận xã hội Điểm

Yêu cầu chung
-Câu này kiểm tra năng lực viết đoạn văn nghị luận xã hội, đòi hỏi thí sinh phải huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản,..
-Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; được tự do bày tỏ chủ kiến của mình nhưng phải có thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.
– Đúng hình thức một đoạn văn.
Yêu cầu cụ thể
Mặc dù là một đoạn văn nhưng vẫn phải đảm bảo các ý sau:
– Cơ hội là sự xuất hiện những khả năng cho phép người ta làm một cái gì đó. Cơ hội là thời điểm hội tụ một số điều kiện thuận lợi. Cơ hội là những gì chúng ta có thể nắm bắt được nhằm làm thay đổi cuộc sống của chúng ta theo chiều hướng tích cực.
– Ví dụ như cơ hội làm ăn, cơ hội học tập trao đổi, cơ hội phát huy tài năng…
– Trong cuộc sống, con người có nhiều cơ hội để nắm bắt nhằm thực hiện một kế hoạch, một mục đích làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
– Tuy nhiên, không phải ai cũng phát hiện cơ hội và nắm bắt cơ hội tốt. (Ví dụ).
– Đặc biệt, không nhất thiết con người phải chờ cơ hội đến mà phải tự tạo nên cơ hội. (ví dụ)
– Bản thân tôi luôn hiểu rằng việc nắm bắt cơ hội và tạo ra cơ hội để thực hiện những dự định, hoài bão trong tương lai là điều vô cùng quan trọng. (lí giải).

Đề 7 : Đề đọc hiểu và Nghị luận xã hội về giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt

ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ  câu 1 đến câu 4:

Phát biểu tại Hội thảo Khoa học quốc gia về việc “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam khẳng định: Tiếng Việt rất giàu, rất đẹp. Những tác phẩm văn học, thơ ca lớn, những tuyên bố, báo cáo trong lĩnh vực khoa học, văn bản có tính pháp lý của Nhà nước thể hiện trình độ phát triển cao của tiếng Việt. Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt”. Bác Hồ đã có những lời dặn rất sâu sắc về cách nói, cách viết sao cho ngắn gọn, trong sáng, giản dị, dễ hiểu. Bác Hồ cũng đã dạy tiếng Việt là tài sản quý báu của dân tộc mà chúng ta phải giữ gìn. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã nói rất rõ ràng về trong và sáng của tiếng Việt.

Theo Phó Thủ tướng, trong quá trình hội nhập phát triển nói chung, làm giàu tiếng Việt nói riêng, việc tiếp thu những thành tựu của văn minh nhân loại hay mượn tiếng nước ngoài để làm giàu thêm tiếng Việt là một yếu tố khách quan.

Tuy nhiên, có một thực tế hiện nay là ngoài xã hội, trên các diễn đàn, trong một số tài liệu, báo cáo, trên các ấn phẩm thông tin đại chúng, kể cả trong sách giáo khoa có nhiều biểu hiện thiếu chuẩn mực trong sử dụng tiếng Việt, quá dễ dãi trong phát triển, làm mới tiếng Việt. Hiện tượng lạm dụng, sử dụng ngôn từ, từ tiếng nước ngoài đang ngày càng nhiều. Đáng báo động là không có nhiều, không có đủ sự phân tích, nhắc nhở, phê phán những biểu hiện đó.

(www.baoyenbai.com.vn, ngày 6/11/2016)

 

Câu 1. Xác định nội dung chính của đoạn trích trên.

Câu 2. Anh/chị hiểu thế nào: “làm giàu tiếng Việt nói riêng, việc tiếp thu những thành tựu của văn minh nhân loại hay mượn tiếng nước ngoài để làm giàu thêm tiếng Việt là một yếu tố khách quan”.

Câu 3. Theo anh/chị, vì sao “Bác Hồ cũng đã dạy tiếng Việt là tài sản quý báu của dân tộc mà chúng ta phải giữ gìn”?

Câu 4. Từ đoạn trích trên, anh/chị rút ra thông điệp gì?

LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu: “Hiện tượng lạm dụng, sử dụng ngôn từ, từ tiếng nước ngoài đang ngày càng nhiều”.

Đáp án

ĐỌC – HIỂU
Câu 1. Nội dung chính của đoạn trích: Bàn về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Câu 2. Việc tiếp thu những thành tựu của văn minh nhân loại hay mượn tiếng nước ngoài để làm giàu thêm tiếng Việt là điều cần thiết.
Câu 3. Bác Hồ cho rằng: “tiếng Việt là tài sản quý báu của dân tộc mà chúng ta phải giữ gìn”, vì:
– Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, tiếng chính thống của dân tộc.
– Tiếng Việt là kho tàng ngôn ngữ vô tận, quý giá được kết tinh tự ngàn đời của dân tộc.
– Tiếng Việt góp phần thể hiện ý thức về chủ quyền dân tộc.
Câu 4.Từ đoạn trích, thí sinh có thể đưa ra thông điệp: biết tự hào, trân trọng tiếng mẹ đẻ; ý thức bảo vệ, giữ gìn và phát triển tiếng Việt.
LÀM VĂN

Phần Nghị luận xã hội :
Viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ về ý kiến: “Hiện tượng lạm dụng, sử dụng ngôn từ, từ tiếng nước ngoài đang ngày càng nhiều”.
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận: đoạn có câu chủ đề, các câu tiếp theo triển khai được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: hiện tượng lạm dụng, sử dụng ngôn từ, từ tiếng nước ngoài.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các câu phù hợp: câu mở đoạn nêu vấn đề, các câu tiếp theo triển khai câu chủ đề, câu kết cần rút ra bài học nhận thức và hành động.
Đoạn văn có thể có những ý sau:
– Việc gìn giữ và làm giàu vốn từ ngữ tiếng Việt là rất cần thiết nhưng hiện nay nhiều người đang lạm dụng ngôn ngữ nước ngoài và sử dụng nó một cách tuỳ tiện.
– Có rất nhiều nguyên nhân nhưng nổi bật nhất là xu hướng xính ngoại, thích “hiện đại”, thích được thể hiện cá tính của giới trẻ.
– Việc lạm dụng ngôn ngữ nước ngoài làm ảnh hưởng đến nhận thức và hành động của mỗi cá nhân trong cộng đồng; làm giảm sút lòng tự tôn dân tộc và dần mất đi bản sắc văn hóa của người Việt Nam.
– Rút ra bài học nhận thức và hành động.
d. Sáng tạo: diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

Đề 8: Đề đọc hiểu môn văn có đáp án: Bài thơ Xuân về của Nguyễn Bính

PHẦN ĐỌC HIỂU: (3.0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi  từ Câu 1 đến Câu 4:

“ Đã thấy xuân về với gió đông

Với trên màu má gái chưa chồng

Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm

Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong.

 

Từng đàn con trẻ chạy xun xoe

Mưa tạnh trời quang nắng mới hoe

Lá nõn nhành non ai tráng bạc

Gió về từng trận gió bay đi

 

Thong thả dân gian nghỉ việc đồng

Lúa thì con gái mượt như nhung

Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng

Ngọt ngào hương bay, bướm vẽ vòng.

 

Trên đường cát mịn một đôi cô

Yếm đỏ khăn thâm trảy hội chùa

Gậy trúc giắt bà già tóc bạc

Lần lần tràng hạt niệm nam mô.”

Xuân về của Nguyễn Bính, theo Thi nhân Việt Nam– Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB văn học 2003)

Câu 1: Chỉ ra những từ láy có trong bài thơ trên ?(1.0đ)

Câu 2: Trong khổ thơ thứ nhất, nhà thơ Nguyễn Bính đã cảm nhận mùa xuân về bằng những tín hiệu nào? Tín hiệu đó có gì đặc biệt ? (1.0đ)

Câu 3: Xác định một biện pháp tu từ nổi bật trong khổ thơ thứ ba của bài thơ.(0.5đ)

Câu 4: Khi xuân về, thiên nhiên và con người được tác giả cảm nhận qua những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu nào? (0,5đ)

Đáp án đề đọc hiểu:

Câu 1:  Những từ láy có trong bài thơ trên: xun xoe, Ngọt ngào, Thong thả, Lần lần. 0,5đ
Câu  2 :Nguyễn Bính đã cảm nhận mùa xuân về bằng những tín hiệu:
gió đông( tín hiệu thiên nhiên); màu má gái chưa chồng(tín hiệu của con người) 0,5đ
Tín hiệu có tính đặc biệt: Nguyễn Bính tinh tế cảm nhận được sự thay đổi của con người khi mùa xuân về, đó là tín hiệu đặc biệt nhất so với những nhà thơ khác. 0,5đ
Câu 3: Biện pháp tu từ nổi bật trong khổ thơ thứ ba của bài thơ: Liệt kê. ( mưa tạnh, trời quang, nắng mới hoe,/ Lá non, nhành non) 0,5đ
Câu 4:Khi xuân về, thiên nhiên và con người được tác giả cảm nhận qua những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu:
+ Thiên nhiên: Mưa tạnh trời quang nắng mới hoe/ Lá nõn nhành non/ Lúa thì con gái mượt như nhung/ Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng…
+ Con người: Cô hàng xóm/ Ngước mắt nhìn giời/ một đôi cô
Yếm đỏ khăn thâm trảy hội chùa/ bà già tóc bạc. 1.0đ

Đề 9: Đề đọc hiểu và Nghị luận xã hội bàn về hạnh phúc

Đề đọc hiểu (3 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến câu 4:

“Một đại gia đình gồm hai con trai, hai con dâu, một gái, một rể và những đứa con của họ vẫn sống chung dưới một mái nhà, ăn chung một bếp ăn. Thiên hạ thì chia ra, bà cụ lại gom vào. Vẫn rất êm thấm mới lạ chứ. Nếp nhà đã thắng được tự do của cá nhân sao? Phải nói thêm, cái nếp nhà này cũng ít ai theo kịp. Người con dâu cả vốn là con gái Hàng Bồ, đỗ đại học, là một cô gái kiêu hãnh, tự tin, không dễ nhân nhượng. Ai cũng nghĩ hai người đàn bà, một già một trẻ, cùng sắc sảo sẽ rất khó chấp nhận nhau. Vậy mà họ ăn ở với nhau đã mười lăm năm chả có điều tiếng gì. Người chị của cô con dâu đến nói với bà cô tôi: “Bác chịu được tính nó thì con cũng phục thật đấy”. Bà cải chính: “Đúng là tôi có phần phải chịu nó nhưng nó cũng có phần phải chịu tôi, mỗi bên chịu một nửa”…

[…] Năm ngoái khu phố có yêu cầu bà cụ báo cáo về nếp sống gia đình cho hàng phố học tập. Bà từ chối, khi tôi lại thăm, bà nói riêng: “Cái chuyện ấy ai cũng biết cả, chỉ khó học thôi”. Tôi cười: “Lại khó đến thế sao?” Bà cụ nói: “Trong nhà này, ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao. Anh có học được không?” À, thế thì khó thật. Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống, một quan niệm sống, là nếp nhà, ở trong tay mình, nhưng nhận được ra nó, có ý thức vun trồng nó, lại hoàn toàn không dễ.”

       ( Trích Nếp nhà – Nguyễn Khải, dẫn theo Tuyển tập Nguyễn Khải, tập III,

NXB Văn học, 1996)

Câu 1:  Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản? (0.5 điểm)     

Câu 2: Nội dung chính của đoạn trích trên ?  (1,0 điểm)

Câu 3: Cuộc sống của gia đình “bà cô tôi” có gì đặc biệt ? Anh / chị nhận xét như thế nào về nếp nhà ấy ? (1,0 điểm)

Câu 4: Thái độ của tác giả Nguyễn Khải với câu chuyện về “nếp nhà” của gia đình “bà cô tôi” được thể hiện như thế nào ? (0,5điểm)

Nghị luận xã hội  (2 điểm)

Anh/ chị có đồng tình với quan điểm hạnh phúc sau đây của nhân vật ‘bà cô tôi” ở phần trích văn bản trên không ? Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày quan điểm của anh/ chị về hạnh phúc.

“…thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống, một quan niệm sống, là nếp nhà, ở trong tay mình, nhưng nhận được ra nó, có ý thức vun trồng nó, lại hoàn toàn không dễ.”

Đáp án :

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên: tự sự (0.5)
Câu 2: Nội dung chính của đoạn trích trên :
+ Cuộc sống – nếp nhà của gia đình “bà cô tôi”. Đó là cuộc sống, của một gia đình nhiều thế hệ, tôn trọng và yêu thương lẫn nhau. (0.5 đ)
+ Đồng thời cũng là nề nếp gia đình, là văn hóa ứng xử để tạo nền tảng một gia đình hạnh phúc. (0.5 đ)

Câu 3 – Cái đặc biệt trong cuộc sống của gia đình “bà cô tôi” là : Thiên hạ thì chia ra, bà cụ lại gom vào. Vẫn rất êm thấm mới lạ chứ., Trong nhà này, ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao.(0,5đ)

– Nhận xét về nếp nhà ấy :Đó là cuộc sống của những người không xu thời, yêu thích cuộc sồng gia đình nhiều thế hệ… Nếp nhà như thế rất đáng quý, đáng trọng… (0,5đ)

Câu 4 Thái độ của tác giả Nguyễn Khải với câu chuyện về “nếp nhà” của gia đình “bà cô tôi” đã thể hiện sự trân trọng, ngưỡng mộ ‘nếp nhà’ của gia đình ‘bà cô tôi” (0,5đ)

II. PHẦN LÀM VĂN: (7 điểm)
Câu 1 Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày quan điểm của anh/ chị về hạnh phúc. (2,0)
a. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0, 25
b. Đoạn văn lập luận chặt chẽ, có mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn 0,25
c. Triển khai vấn đề cần nghị luận rõ ràng; vận dụng tốt các thao tác lập lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động 0,25
Thể hiện cách hiểu và bày tỏ đồng tình hay phản đối với quan điểm đưa ra của đề bài, trình bày quan điểm cá nhân với lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục, không đi ngược lại những giá trị đạo đức và nhân văn cao đẹp.
Có thể triển khai :
– Giải thích khái niệm hạnh phúc
– Đánh giá quan điểm hạnh phúc của “bà cô tôi”
– Trình bày quan điểm hạnh phúc của bản thân: thế nào là hạnh phúc, làm thế nào để tạo hạnh phúc và giữ gìn hạnh phúc ?…
– Bài học rút ra… 1,0

Đề 10: Đề đọc hiểu và nghị luận xã hội : Tâm lý sùng ngoại của khán giả Việt Nam

I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

 Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Trong những giấc mơ của không ít bạn trẻ , đặc biệt là các cô gái, có chuyện ước gặp thần tượng ngoài đời thực. [..] Họ phải [..]  tốn kha khá tiền để tới sân vận động nhòm mặt thần tượng, có người về nhà mặt mày tái mét, áo quần đứt cúc tuột khuy.

Chỉ có điều đáng nói là thần tượng đến, rồi đi, để lại những dư âm đắng nghét . Khi “ diễn giao lưu”, họ cố gắng bộc lộ niềm yêu mến của mình với bao khán giả . Những cái hôn gió, những lời nói có cánh và những hứa hẹn hết mình với nghệ thuật,…Nhưng những bó hoa bỏ lại trên sân khấu, nét mặt lạnh lùng khi đi giữa hàng rào bảo vệ, những pha cắt đuôi quá quắt trước làn sóng báo chí của họ…thật khó để nói tình yêu ấy thật lòng. Đã vậy, chỉ sau vài sô diễn, một số người đã có những phát biểu không mấy thiện cảm về khán giả Việt Nam.

(Theo “ Tâm lí sùng ngoại và những tình yêu bị phản bội”, báo Công an nhân dân, số 62 năm 2004)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên?

Câu 2: Anh/chị hiểu như thế nào về câu văn sau: “Nhưng những bó hoa bỏ lại trên sân khấu, nét mặt lạnh lùng khi đi giữa hàng rào bảo vệ, những pha cắt đuôi quá quắt trước làn sóng báo chí của họ…thật khó để nói tình yêu ấy thật lòng”?

Câu 3: Hiện tượng gì được đề cập đến trong đoạn trích trên?

Câu 3: Thông qua đoạn trích trên, anh/ chị rút ra bài học gì cho bản thân?

PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1, Nghị luận xã hội (2,0 điểm)

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng được đề cập đến trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

Đáp án : 

Đọc hiểu một đoạn văn…
-Phương thức biểu cảm/biểu cảm

-Tình cảm giả dối, không thật của các thần tượng

-Tâm lý sùng ngoại của khán giả Việt Nam
-Sự phản bội lại tình yêu ở khán giả Việt Nam của các thần tượng
Học sinh tự rút ra bài học, có thể diễn đạt bằng nhiều cách nhưng phải đúng hai ý trong các ý sau:
-Người nghệ sĩ trên sân khấu và con người ngoài đời không phải hoàn toàn giống nhau,…
-Có thể thần tượng người nghệ sĩ trên sân khấu nhưng không thể thần tượng luôn con người ngoài đời của người nghệ sĩ đó
-Không nên tiếp cận và làm phiền thần tượng khi họ đang bận rộn,…
-Phải biết chọn lọc những ưu điểm từ thần tượng để học hỏi, phấn đấu làm theo nhưng phải trong chừng mực cho phép của điều kiện bản thân và hoàn cảnh sống,…
Đúng một ý trong các ý trên

Bài nghị luận xã hội
Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng được đề cập đến trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận:
Có đủ các phần mở, thân, kết đoạn; mở đoạn cầnnêu được vấn đề, thân đoạntriển khai được vấn đề, kết đoạnkhái quát lại vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tâm lí sùng ngoại và những tình yêu bị phản bội
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động
* Nêu hiện tượng :
+ Khán giả người Việt Nam rất thần tượng các ca sĩ, diễn viên nổi tiếng ở nước ngoài.
+Bất chấp tiếp cận để nhận lại sự thật đau lòng
->Đó là hiện tượng phổ biến hiện nay
* Bàn luận:
– Tâm lý sùng ngoại: yêu thích những người nổi tiếng ở nước ngoài đã từ lâu ăn sâu vào tim óc của một bộ phận không nhỏ người Việt Nam, đặc biệt là các cô gái trẻ
+Bỏ tiền kha khá ra sân vận động để được xem thần tượng
+Chen lấn, chịu cực khổ, chịu thiệt thòi để được xem thần tượng
-Những tình yêu bị phản bội:
+ Khán giả Việt Nam được đáp lại bằng tất cả sự ngọt ngào khi người nghệ sĩ còn đứng trên sân khấu “họ cố gắng bộc lộ niềm yêu mến của mình với bao khán giả . Những cái hôn gió, những lời nói có cánh và những hứa hẹn hết mình với nghệ thuật”
+ Nhưng tất cả chỉ là giả dối vì các thần tượng bắt đầu thay đổi thành con người lạnh lùng, vô tình ngay từ lúc các thần tượng diễn xong tiết mục của minh: những bó hoa bỏ lại, nét mặt lạnh lùng, những pha cắt ngang; những lời phát biểu không mấy thiện cảm với khán giả Việt Nam
-Mở rộng:
+Nhiều người nổi tiếng ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam rất thật lòng với người hâm mộ (dẫn chứng)
+Một số người Việt Nam nổi tiếng cũng quay lưng đối với người hâm mộ (dẫn chứng)
-Phê phán: những người nổi tiếng và con người nói chung có tình cảm giả tạo, họ sẽ chẳng còn gì khi bản thân đã hết thời.
*Bài học nhận thức và hành động: như câu 4 phần Đọc hiểu
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu

Đề 11: Đề đọc hiểu và Nghị luận xã hội suy nghĩ về tình yêu biển đảo Việt Nam

Đề đọc hiểu văn bản : Lính đảo hát tình ca trên đảo

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu :

Đá san hô kê lên thành sân khấu 
Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà 
Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ 
Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa

Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng 
Đá củ đậu bay như lũ chim hoang 
Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu 
Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn…

Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc 
Người xem ngổn ngang cũng… rặt lính trọc đầu 
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc 
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau

[…] Nào hát lên cho đêm tối biết 
Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây 
Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió 
Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này

(Trích Lính đảo hát tình ca trên đảo, Trần Đăng Khoa, Bên cửa sổ máy bay, NXB Tác phẩm mới, 1985)

Câu 1. (0,5 điểm) Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ trên.

Câu 2. (0,5 điểm) Buổi liên hoan văn nghệ ở Trường Sa có gì đặc biệt khác thường so với ở đất liền?

Câu 3. (1,0 điểm) Hình ảnh những người lính trọc đầu trong đoạn thơ gợi cho anh/chị liên tưởng đến câu thơ nào về người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp? ở họ có điểm chung gì về hoàn cảnh chiến đấu  và bảo vệ tổ quốc

Câu 4. (1,0 điểm) Trình bày ngắn gọn cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm của những người lính đảo được đề cập trong đoạn thơ trên.

LÀM VĂN  Nghị luận xã hội (2,0 điểm)

Từ những câu thơ “Ta đứng vững giữa muôn trùng sóng gió / Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này… ”, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về tình yêu biển đảo Việt Nam.

Đáp án

Câu 1: Những phương thức biểu đạt:  biểu cảm, miêu tả. 0,50
Câu 2: Buối liên hoan văn nghệ ở Trường Sa đặc biệt khác thường so với ở đất liền là ở chỗ: sân khấu được kê bằng đá san hô, cánh gà dựng lên bởi mấy tấm tôn, không có phông màn hay trang trí, sỏi cát bay bụi mù vì gió… Tất cả cho thấy sự tạm bợ cùng cuộc sống thiếu thốn nơi biển đảo. 0,50
Câu 3: – Hình ảnh những người lính trọc đầu trong đoạn thơ gợi liên tưởng đến hình ảnh người lính Tây Tiến thời kháng Pháp qua câu thơ “Tây Tiến đoàn bỉnh không mọc tóc” (Tây Tiến của Quang Dũng).
– Điểm chung về hoàn cảnh chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc:
+ Sự thiếu thốn về vật chất (nước ngọt, thuốc men..)
+ Phải đối đầu với thiên nhiên khắc nghiệt (rừng thiêng, sóng gió.. .)• 0,50
0,50
Câu 4: HS trình bày cảm nhận cá nhân về vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm của những người lính đảo được đề cập trong đoạn thơ:
– Tâm hồn lạc quan, lãng mạn: hình ảnh những người lính đảo vui tươi, trẻ trung, tràn đầy sức sống; những tiếng hát bay bổng ngàn vang giữa đảo xa.
– Tình yêu Tổ quốc nồng nàn: sẵn sàng đương đầu với sóng cả gió to, những thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần để bảo bệ biển đảo quê hương, bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc. 0,50

Câu Nghị luận xã hội: 

Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về tình yêu biển đảo Việt Nam từ những câu thơ “Ta đứng vững giữa muôn trùng sóng gió / Tồ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này… ” 2,00
* Yêu cầu chung:
– Viêt đúng một đoạn văn, khoảng 200 chữ; trình bày mạch lạc, rồ ràng; không măc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
– Thí sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau; có thể bày tỏ quan điểm, suy nghĩ riêng nhưng phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng, với thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
* Yêu cầu cụ thể:
a. Đảm bảo đúng yêu cầu về cấu trúc. 0,25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tình yêu biển đảo Việt Nam. 0,25
c. Triển khai vấn đề thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
– Giải thích:
Tình yêu biển đảo là tình cảm yêu quý và ý thức bảo vệ, xây dựng biển đảo. Đấy là một tình cảm thiêng liêng, cao quý của mỗi con người đối với Tổ quốc. 0,25
– Phân tích:
+ Biển đảo là chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, không thế lực thù địch nào có thể xâm chiêm được.
+ Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm; bao thế hệ đã chiến đấu, hi sinh quên mình để bảo vệ biển đảo, bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc.
+ Những người lính đảo đang ngày đêm canh gác biển trời; họ thường xuyên phải đối đầu với những gian nan, thử thách để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, bảo vệ sự bình yên cho đất nước. 0,25
– Bàn luận:
+ Lên án những hành vi sai trái, xâm phạm lãnh hải Việt Nam.
+ Trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc tiếp nối truyền thống yêu nước: bảo vệ và xây dựng biển đảo nói riêng, Tổ quốc nói chung. 0,25
– Bài học:
+ Luôn nêu cao ý thức trách nhiệm và lòng tự hào dân tộc.
+ Cần có hành động thiết thực trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải.
+ Biến tình yêu biển đảo, tình yêu đất nước thành niềm tin, động lực, lí tưởng sống… 0,25

Đề 12: Đề đọc hiểu và Nghị luận xã hội về bài thơ Tự Tình Hồ Xuân Hương

Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!

(Tự tình II,Hồ Xuân Hương, Ngữ văn 11, tập 1, NXBGDVN 2010, tr.18).

  1. Bài thơ trên được viết theo Thể thơ nào?
  2. Xác định các từ Hán Việt trong bài thơ.
  3. Xác định Biện pháo tu từ  cú pháp được sử dụng trong 2 câu đầu của bài thơ? Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.
  4. Từ xuân trong hai câu thơ Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại có nghĩa là gì?

Phần Làm văn Nghị luận xã hội (2,0 điểm )

Từ nội dung bài thơ Tự tình, anh chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ước mơ hạnh phúc của người phụ nữ Việt Nam.

Đáp án : 

Đề đọc hiểu:  (3,0 điểm)

Câu 1. Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú đường luật/ tám câu bảy chữ đường luật/ thất ngôn bát cú.

-Điểm 0,5: Trả lời đúng theo cách trên.

-Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

Câu 2.Từ Hán Việt là hồng nhan.

-Điểm 0,5: Trả lời đúng.

-Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

Câu 3.Biện pháp tu từ đảo ngữ (trơ cái hồng nhan…). HS không nêu rõ dẫn chứng ( )cho 0,25 đ).

Ý nghĩa: thái độ buồn, chán và bực dọc của nhân vật trữ tình.

-Điểm 1,0: Trả lời đúng và khá đủ; diễn đạt hợp lý.

– Điểm 0,5: Nêu được ý hiểu và biện pháp tu từ.

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

Câu 4.

Từ xuân hiểu theo 2 nghĩa: từ (xuân lại lại): mùa xuân của trời đất; từ (xuân đi) chỉ tuổi xuân, tuổi trẻ của người con gái.

-Điểm 1,0: Trả lời đúng và khá đủ; diễn đạt hợp lý.

– Điểm 0,5: Nêu một ý nghĩa trong hai.

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

Phần Làm văn Nghị luận xã hội  (2,0 điểm)

Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về đoạn văn nghị luận xã hội để viết đoạn khoảng 200 chữ, tương đương ½ trang giấy thi. Đoạn văn viết có cảm xúc; diễn đạt dễ hiểu, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

Yêu cầu cụ thể:

a) Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận (0,5 điểm):

– Điểm 0,5 điểm: Đoạn văn đầy đủ phần Mở đoạn, Thân đoạn, Kết đoạn. Câu Mở đoạn nêu được đúng chủ đề; phần Thân đoạn, các câu văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; câu Kết đoạnnêu được ý khái quát về vấn đề.

– Điểm 0,25: Viết được đoạn văn nhưng chưa đảm bảo mạch lạc, chính xác về bố cục ba phần.

– Điểm 0: Không biết viết đoạn văn hoặc quá ngắn, sơ sài vài câu.

b) Nêu đúng vấn đề: (1,25 điểm)

Suy nghĩ về ước mơ hạnh phúc của người phụ nữ, yêu cầu thí sinh diễn đạt cụ thể nội dung trả lời của câu hỏi 3, phần đọc hiểu.Thí sinh có thể viết theo cách trình bày đoạn văn khác nhau nhưng cần làm rõ các gợi ý sau:được sống trong tình yêu, hạnh phúc trọn vẹn, được bình đẳng, được yêu thương, được trân trọng vàbảo vệ…

– Điểm 1,25 : Cơ bản đáp ứng được các nội dung; diễn đạt rõ ràng; liên kết câu chặt chẽ.

– Điểm 0,75: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các nội dung; diễn đạt, liên kết câu còn lúng túng.

– Điểm 0,25: Đáp ứng được 1/3 các nội dung trên; có thể còn lỗi câu và dùng từ, chính tả.

– Điểm 0: hiểu sai lạc nội dunghoặc không viết được đoạn văn.

c) Sáng tạo (0,25 điểm)

– Điểm 0,25: cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu  tố biểu  cảm,…)  ;  thể hiện được cảm xúc chân thành và sâu sắc về nội dung.

– Điểm 0: cách diễn đạt lan man; mắc nhiều lỗi dùng từ, dựng câu; chữ viết cẩu thả hoặc sai chính tả nhiều.

Đề 13: Đề đọc hiểu và nghị luận xã hội về lời xin lỗi

Đề bài : đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu

“Chiều tối qua ngày 11/11/2016, một tấm hình lan truyền trên mạng gây xúc động và nhận được biết bao nhiêu lời khen ngợi. vô tình va quẹt và làm vỡ một chiếc gương ô tô bên đường, một cậu học trò Hải Phòng đã viết một lời xin lỗi với nội dung sau : “Do vô tình nên cháu đâm vào gương ô tô. Cháu xin lỗi ạ! Liên lạc với cháu theo số điện thoại…để cháu đền ạ vì cháu không biết chủ ô tô là ai” lá thư được dán trên kính ô tô khiến  nhiều người bày tỏ sự cảm kích, khen ngợi hành động trung thực, dám làm, dám chịu của người viết lá thư này.

Anh Chung, chủ nhân xe ô tô bị vỡ gương, dù không tin lắm nhưng cũng gọi điện vào số điện thoại ghi trên giấy. Bất ngờ khi biết đó là em Nguyễn Thế Tùng học sinh lớp 11 trường Trần Nguyên Hãn-Hải Phòng… “Tôi rất cảm động vì trong xã hội ngày nay không ít người gây hậu quả nhưng không dám nhận lỗi, thậm chí thoái thác trách nhiệm, đổ lỗi cho người khác. Đây là hành động dũng cảm cho thấy em được gia đình và nhà trường giáo dục rất tốt.” anh Chung chia sẻ”

(Theo kinh HTV7, chương trình tin tức 60S)

Câu 1 : Xác định phong cách ngôn ngữ và phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Phong cách ngôn ngữ: báo chí

Phương thức biểu đạt  : tự sự

Câu 2 : Nêu ngắn gọn nội dung chính của văn bản
Văn bản kể lại việc em Nguyễn Thế Tùng viết lời xin lỗi và dũng cảm nhận lỗi sai khi vô tình làm vỡ kính. Hành động đó đã lan truyền trên mạng xã hội và được khen ngợi vì dũng cảm và trung thực.

Câu 3 : Theo anh/chị hành động của em Nguyễn Thế Tùng có ý nghĩa gì?
Hành động của em Nguyễn Thế Tùng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống bởi đó là hành động đẹp, là tấm gương tiêu biểu cho mọi người noi theo.

Câu 4: Văn bản trên đã gửi gắm người đọc thông điệp gì? Thông điệp nào quan trong nhất với anh chị?
Văn bản trên đã gửi đến thông điệp cho người đọc về tính trung thực trong cuộc sống. Không chỉ vậy còn là lòng dũng cảm. Thông điệp quan trong nhất với tôi chính là tính trung thực. Tính trung thực là một đức tính cần thiết để rèn luyện, bồi đắp  tâm hồn mỗi con người. Khi có tính trung thực bản thân cũng như xã hội sẽ tốt đẹp hơn. Bên cạnh đó còn có những người thiếu tính trung thực, sẽ bị mọi người xa lánh, xem thường. Họ đáng phê phán và lên án. Bản thân tôi sẽ luôn rèn luyện, tu dưỡng để có tính trung thực.

Làm văn:

Viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ về lời xin lỗi trong cuộc sống ?

Trong cuộc sống chắc hẳn không ai trọn vẹn và không mắc những sai lầm, điều quan trọng là biết nói lời xin lỗi . Vậy “xin lỗi” là gì? Xin lỗi là khi ta biết nhận sai khi bản thân mắc lỗi, xin lỗi chính là  một nét tế nhị cần có trong xã hội thể hiện sự thiện cảm và kính trọng người khác. Khi xin lỗi chúng ta có thể cảm hóa cơn giận và ngăn chặn những hiểu lầm. Khi xin lỗi chân thành thì có thể hóa giải những hành động tiêu cực. Nó giúp cho những mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn, giúp bản thân mỗi người trở nên lịch sự, khiêm tốn, có lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm trong mắt người khác. Em Nguyễn Thế Tùng là minh chứng tiêu biểu cho điều đó. Những người biết xin lỗi xứng đáng để chúng ta ngưỡng mộ và khâm phục. bên cạnh đó vẫn có những người sai phạm , được góp ý nhưng không chịu nhận lỗi, không xin lỗi. Họ đáng bị phê phán và lên án. . Mỗi chúng ta phải luôn rèn luyện tính trung thực và dũng cảm để khi sai phạm thì sẵn sàng nhận lỗi và nói lời xin lỗi. bản thân em sẽ luôn cố gắng rèn luyện bản thân để biết xin lỗi khi sai phạm trong cuộc sống.

Đề 14:Đề đọc hiểu văn nghị luận xã hội bàn về hạnh phúc

Đề bài :
“Đừng nói cuộc đời tẻ nhạt nhé em
Hạnh phúc ở trong những điều giản dị
Trong ngày, trong đêm
Đừng than phiền cuộc sống tẻ nhạt nhé em
Hạnh phúc ngay cả khi em khóc
Bởi trái tim buồn là trái tim vui
Hạnh phúc bình thường và giản dị lắm
Là tiếng xe về mỗi chiều của bố
Cả nhà quay quần trong căn phòng nhỏ
Chị xới cơm đầy bắt phải ăn no
Hạnh phúc là khi đêm về không có tiếng mẹ ho
Là ngọn đèn soi tương lai em sáng
Là điểm 10 mỗi khi lên bảng
Là ánh mắt một người lạ như quen
Hạnh phúc là khi mình có 1 cái tên
Vậy đừng nói cuộc đời tẻ nhạt nhé em
Tuổi 18 còn khờ khạo lắm
Đừng tô vẽ một chân trời xa toàn màu hồng thắm
Hạnh phúc vẹn nguyên giữa cuộc đời thường”
( “Hạnh phúc”-Thanh Huyền)
1. Xác định phương thức biểu đạt chính và phong cách ngôn ngữ của văn bản trên?
Phương thức biểu đạt: tự sự
Phong cách ngôn ngữ: nghệ thuật
2. Thanh Huyền quan niệm về hạnh phúc như thế nào trong bài thơ trên? Quan niệm ấy được thể hiện cụ thể ở những hình ảnh, từ ngữ nào?
Thanh Huyền quan niệm hạnh phúc xuất phát từ những điều giản dị, gần gũi. Hạnh phúc được biểu hiện cụ thể qua hình ảnh, từ ngữ như “ tiếng xe về mỗi chiều của bố”,“Cả nhà quây quần trong căn phòng nhỏ”, “Chị xới cơm đầy bắt phải ăn no”
“khi đêm về không có tiếng mẹ ho”, “Là ngọn đèn soi tương lai em sáng”, “ điểm 10 mỗi khi lên bảng”, “Là ánh mắt một người lạ như quen”, “Hạnh phúc là khi mình có 1 cái tên”

3. Cho biết hiệu quả nghệ thuật của của phép tu từ so sánh trong những câu thơ in đậm?
Hiệu quả của nghệ thuật phép tu từ so sánh với hàng loạt hình ảnh giàu sức biểu cảm tác giả gợi ra hạnh phúc là những điều giản dị, gần gũi với mỗi người.
4. Anh chị suy nghĩ gì về lời nhắn nhủ của nhân vật trữ tình dành cho em mình?
Tác giả nhắn nhủ em bằng tình cảm chân thành và tình yêu thương của người chị dành cho em, hạnh phúc xuất phát từ những điều giản dị, hãy biết trân trọng nó. Hạnh phúc trong cuộc sống chính là từ bản thân mỗi chúng ta xây dựng nên. Không tô thắm màu hồng của hạnh phúc mà chắt chiu nó bằng những điều đơn giản, đời thường. Biết trân trọng hạnh phúc chắc chắn hạnh phúc sẽ mỉm cười với mỗi chúng ta. Bên cạnh đó vẫn có những người luôn ảo tưởng về những hạnh phúc xa xôi, không thực tế vì vậy rất dễ rơi vào cảm giác bất hạnh. Mỗi chúng ta hãy trân trọng hạnh phúc của mình trong những điều giản dị nhất.
Nghị luận xã hội
Hãy viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh chị về hạnh phúc của nhà thơ Thanh Huyền ?

Trong cuộc sống của mỗi người có thể đi tìm cho mình những mục tiêu khác nhau để đi đến hạnh phúc của bản thân nhưng mấy ai biết kiếm tìm hạnh phúc như thế nào. Chính vì vậy nhà thơ Thanh Huyền đã viết “ Hạnh phúc ở trong những điều giản dị”. vậy “hạnh phúc” là gì? Đó là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng, hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lí trí. Như vậy cả câu nói“ Hạnh phúc ở trong những điều giản dị”. nghĩa là hạnh phúc tồn tại trong những điều bình thường,gần gũi trong cuộc sống. Hạnh phúc không phải lúc nào cũng cao sang, đôi khi tình yêu lại bắt đầu từ những điều giản dị nhất mà những lúc vô tình bạn không nhận ra. Như Thanh Huyền định nghĩa hạnh phúc vô cùng giản đơn có thể đó chỉ là “tiếng còi xe mỗi chiều của bố” hay “chị xới cơm đầy bắt phải ăn no”, đó là những yêu thương quan tâm những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống của những người thân yêu trong gia đình. Những điều ấy bình dị mộc mạc thôi nhưng gợi cho lòng người bao nhiêu ấm áp, yêu thương. Bên cạnh đó không phải ai cũng cảm nhận được hạnh phúc giản dị mà có những người chạy theo những thứ phù phiếm, xa hoa, chạy theo những ảo tưởng mà quên mất hạnh phúc giản đơn bình dị quanh mình. Vì vậy khi nhận ra thì hạnh phúc đã tuột khỏi tầm tay. Những người như vậy đáng phê phán và lên án. Mỗi chúng ta hãy biết trân trọng hạnh phúc và cố gắng đừng tham lam những điều xa vời với bản thân. Bản thân em sẽ trân trọng những hạnh phúc giản đơn mà mình đang có. Đó là sự yêu thương và được yêu thương của gia đình cũng như mọi người xung quanh!

Đề 15: Đề Đọc hiểu và Nghị luận xã hội 200 chữ về sự vô cảm của con người

Dạng đề  đọc hiểu tích hợp Nghị luận xã hội 200 chữ về hiện tượng thờ ơ, vô cảm của những người tham gia giao thông.

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4 :

Vụ tai nạn tại Gia Lâm (Hà Nội) ngày 29/2/2016 chắc vẫn ám ảnh lâu dài với nhiều người, bởi sự  xót xa đau đớn tận cùng về cái chết oan uổng của 3 sinh linh vô tội. Nhưng, một nỗi xót xa khác cũng đang khiến nhiều người trăn trở, đó là sự vô cảm đến tàn nhẫn của con người. 

Nỗi đau sau vụ tai nạn thảm khốc, kinh hoàng ngoài sức tưởng tượng xảy ra ở Gia Lâm ngày hôm qua vẫn cứa vào tâm can gia đình nạn nhân và những người ở lại.

Người ta thấy sự bàng hoàng, thất thần hoảng loạn chưa dứt trong đôi mắt, trên gương mặt của người mẹ mất con, người con mất cha, người chồng mất vợ. Cái chết của những người thân yêu đến trong một tích tắc, đầy oan uổng và đau đớn.

Nhưng còn một nỗi đau, dai dẳng và ám ảnh không kém sự ám ảnh về những cái chết vô tội kia, đó là sự vô cảm tàn nhẫn của con người.

Cháu bé không còn nguyên vẹn hình hài, thoi thóp thở những giây cuối cùng của cuộc sống trên đôi tay cô giáo. Và cô giáo ấy, trong nỗ lực bằng mọi giá cứu học trò nhỏ bé bỏng, đã phải bất lực nhìn những chiếc xe cố chen khỏi đám đông, thậm chí cả khi cửa xe mở rồi, cô bé được bế lên, tài xế vẫn nhấn ga, cuống cuồng bỏ đi, bỏ lại cô bé bơ vơ giữa lòng đường.(…)

  (Nguồnhttp://vtc.vn/thay-nguoi-thoi-thop-ben-duong-nhan-ga-chay-nhanh-sao-tan-ac-vay-dong-loai-oi.457.597201.htm)

Câu 1. Xác định Phong cách ngôn ngữ của văn bản. (0,5 điểm)

Câu 2. Đặt nhan đề cho văn bản. (0,5 điểm)

Câu 3. Văn bản sử dụng phép lặp cú pháp. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của phép lặp đó. (1,0 điểm)

Câu 4. Các từ ngữ cố chen khỏi đám đông; vẫn nhấn ga; cuống cuồng bỏ đi…đạt hiệu quả nghệ thuật như thế nào trong việc thể hiện thái độ của những tài xế trước tai nạn? (1,0điểm)

Phn II. Làm văn (7,0 đim)

Câu 1 (2,0 điểm):

Viết một đoạn văn ngắn khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh(chị) về câu nói: “Nhưng còn một nỗi đau, dai dẳng và ám ảnh không kém sự ám ảnh về những cái chết vô tội kia, đó là sự vô cảm tàn nhẫn của con người”.

Đáp án

ĐỌC HIỂU
Trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4
Câu 1.Đoạn văn thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí hoặc chính luận

– Điểm 0,5: nêu đúng tên phong cách của văn bản
– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

Câu 2. Có thể đặt tên cho văn bản: Vô cảm, bệnh vô cảm, Thói thờ ơ…

– Điểm 0,5: nêu đúng tên các nhan đề trên hoặc nhan đề khác nhưng phải phù hợp
– Điểm 0: Đặt sai nhan đề hoặc không trả lời

Câu 3. Văn bản sử dụng phép lặp cú pháp. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của phép lặp đó.
– Điểm 1,0: mỗi ý 0,5 điểm
+ Phép điệp cú pháp:đó là sự vô cảm đến tàn nhẫn của con người (2 lần).
+ Hiệu quả nghệ thuật : nhấn mạnh và tỏ thái độ lên án mạnh mẽ sự vô cảm của con người trước tai nạn giao thông thảm khốc.
– Điểm 0,5: HS chỉ nêu được 1 trong 2 ý trên
– Điểm 0,25: Không chỉ ra được phép điệp nhưng trình bày còn chung chung hiệu quả của nghệ thuật
– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

Câu 4 :

+ Các từ ngữ cố chen khỏi đám đông; vẫn nhấn ga; cuống cuồng bỏ đi…đạt hiệu quả nghệ thuật trong việc thể hiện thái độ của những tài xế trước tai nạn
+ Dùng hàng loạt động từ mạnh như cố chen,nhấn, cuống cuồng, ta thấy thái độ thờ ơ, lạnh lùng của những người tài xế khi họ có đủ điều kiện giúp đỡ người bị nạn mà vẫn không thực hiện.
– Điểm 0,5: Trả lời 1 trong 2 ý trên
– Điểm 0,25: Trả lời còn chung chung
– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

LÀM VĂN

Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòng tốt trong cuộc sống hôm nay.

a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ
Có đủ các phần mở đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, phát triển đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra biện pháp khắc phục hiện tượng.
– Giải thích:Vô cảm là không có cảm xúc, tàn nhẫn là bất nhẫn và tàn tệ, không có lòng thương con người
– Phân tích hậu quả, nguyên nhân:
+ Người vô cảm đến tàn nhẫn sẽ biến mình thành kẻ sống ích kỉ, sống chỉ biết mình mà không biết người.
+ Sống vô cảm sẽ tác động rất lớn đến gia đình, xã hội. Xét trên hai góc độ pháp luật và đạo đức, họ là những kẻ đáng lên án…( lấy dẫn chứng)
+ Con người chạy theo đồng tiền, chạy theo vật chất mà quên đi giá trị của đời sống tinh thần. Coi đồng tiền cao hơn giá trị con người.
+ Một phần nữa cũng là do xã hội hiện đại quá bận rộn và đòi hỏi con người phải làm việc, làm việc và làm việc mà bỏ quên thời gian để trao nhau hơi ấm của tình thương, để ươm mầm cảm xúc.
– Bình luận, mở rộng vấn đề:
+ Thờ ơ , vô cảm là thái độ sống lệch chuẩn mực đạo đức
+ Lối sống bao dung, biết quan tâm,giúp đỡ người khác …
– Bài học nhận thức và hành động.
+ Đây là thái độ, là cách sống tiêu cực đáng phê phán vì nó trái ngược với truyền thống đạo đức nhân ái, vị tha đã có từ bao đời của dân tộc ta. Bởi vậy chúng ta cần học tập lối sống lành mạnh, biết yêu thương sẻ chia đồng cảm với những người xung quanh.
+Tham gia các hoạt động xã hội có tính nhân văn cao như phong trào đền ơn đáp nghĩa, phong trào thanh niên lập nghiệp…
+ Xã hội cần lên án mạnh mẽ bệnh vô cảm, coi đó như là một cuộc chiến đấu để loại bỏ căn bệnh này ra khỏi xã hội ta.
d. Sáng tạo
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

Đề 16: Đề đọc hiểu văn bản Mợ Du của Nguyên Hồng

Tuyển tập bộ đề đọc hiểu ôn thi môn văn. Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Mợ Du! Mợ Du! Một người đàn bà mà hiện giờ tôi còn nhớ từng nét mặt, tiếng nói. Mợ có một gương mặt trắng mát, gò má hơi cao, mắt có quầng thâm và lúc nào cũng ướt át, lờ đờ. Tiếng nói của mợ nhẹ và ấm. Mợ đã là người bạn buôn bán thân nhất của mẹ tôi. Nhưng từ ngày mợ bỏ cậu Du, tôi ít thấy mẹ tôi chuyện trò với mợ, cho đến ngày nghe đâu mợ vào Vinh cùng với một người thợ may tây rồi đẻ con với người ấy.

Mợ Du bỏ chồng! Mợ Du phải bỏ chồng vì bị mẹ chồng và em chồng bắt được quả tang tình tự với anh thợ may trai trẻ, có duyên, làm cho nhà mợ! Tôi đã không hiểu tại sao mợ Du đã có con lớn lại bậy bạ như thế. Và, như những người lớn, tôi đã ghét và khinh mợ mỗi khi nghe nhắc đến mợ với cái tội không thể tha thứ ấy.

Nhưng sau một đêm kia, đối với mợ Du tôi bỗng đổi ra thành lòng thương và mến. Rồi từ đêm ấy trở đi, tôi căm tức vô cùng trước những kẻ bêu riếu mợ hay ra vẻ ghê tởm thằng Dũng con mợ.

(Nguyên Hồng, Mợ Du)

Câu 1: Hình ảnh nhân vật mợ Du được miêu tả thông qua những từ ngữ nào?

Cấu 2: Chỉ ra nhũng câu đặc biệt được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 3: Phân tích một số chi tiết thể hiện thái độ của tác giả đối với nhân vật được miêu tả.

Câu 4: Phân tích kết cấu của đoạn trích trên.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TIẾT

Câu 1: Hình ảnh mợ Du được miêu tả thông qua một số từ ngữ sau: gương mặt trắng mát, gò má hơi cao, mắt có quầng thâm, ướt át, lờ đờ, tiếng nói của mợ nhẹ và ấm.

Câu 2: Các câu đặc biệt được sử dụng trong đoạn trích là: Mợ Du! Mợ Du!

Câu 3: Đoạn trích thể hiện thái độ dành cho nhân vật mợ Du. Việc miêu tả hình dáng bên ngoài của nhân vật một cách thô kệch không thế hiện rõ thái độ mà tác giả dành cho nhân vật của mình. Việc nhân vật “tôi” thể hiện thái độ được thể hiện một cách trực tiếp, ban đầu là cảm xúc, thái độ ghét và khinh mợ, về sau lại có sự thay đối là sau một đêm kia đối với mợ Du tôi bỗng đổi ra thành lòng thương và mến

Câu 4: Đoan trích có thể được phân chia thành kết cấu như sau:

Đoạn đầu: Miêu tả hình dáng bên ngoài với những nét đặc tả riêng biệt về gương mặt, tiếng nói của mợ Du.

Đoạn còn lại: Tái hiện nhân vật mợ Du thông qua những việc mợ đã làm và thái độ của nhân vật “tôi” với mợ Du.

Đề 17: Đề đọc hiểu đoạn thơ “Không nói” Nguyễn Đình Thi

Bộ đề đọc hiểu vă bản, đọc hiểu bài thơ của Nguyễn Đình Thi

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Dừng chân trong mưa bay

Liếp nhà ai ánh lửa

Yên lặng đứng trước nhau

Em em nhìn đi đâu

Em sao em không nói

Mưa rơi ướt mái đầu

Mỗi đứa một khăn gói

Ngày nào lần gặp sau

Ngập ngừng không dám hỏi

Chuyến này chắc lại lâu

Chiều mờ gió hút

Nào đồng chí- bắt tay

Em

Bóng nhỏ

Đường lầy

(Nguyễn Đinh Thi, Không nói, Tia nắng, (Thơ), Nxb. Văn học 1983)

Câu 1: Nhân vật trữ tình của bài thơ trên là ai?

Câu 2: Chỉ ra biểu hiện biện pháp tu từ điệp ngữ có trong bài thơ trên.

Câu 3: Từ bài thơ trên, hãy viết đoạn văn ngắn về giá trị của những lần ngập ngừng, bỡ ngỡ, những lần gặp mặt hiếm hoi của con người trong quãng thời gian kháng chiến.

Câu 4: Lựa chọn và phân tích chi tiết mà anh (chị) tâm đắc nhất ở bài thơ trên và lí giải sự tâm đắc đó.                       ‘

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TlỂT

Câu 1: Nhân vật trữ tình của bài thơ là một người đồng chí gặp những người đồng chí khác (hoặc có thế là những người thân yêu) trong khoảnh khắc hiếm hoi của những năm kháng chiến.

Câu 2: Biện pháp điệp ngữ biểu hiện ở việc lặp lại từ “em” nhiều lần trong đoạn trích.

Câu 3: Bài thơ viết về những ngập ngừng của những con người trong những lần gặp mặt ít ỏi của con người trong những năm kháng chiến. Nhiều cảnh vật, nhiều tâm trạng xao động trong khoảnh khắc gặp gỡ giữa những tháng năm gian lao và anh dũng, những năm tháng không thể nào quên trong chặng đường cách mạng của dân tộc. Câu thơ “dừng chân trong mưa bay” gợi ra những điều muốn nói  cùa lòng người làm xôn xao nỗi niềm gặp gỡ. Tình cảm xao xuyến ấy trào lên nhưng rất đỗi nhẹ nhàng, dịu dàng thắm thiết : Nào đồng chí – bắt tay/ Em/ Bóng nhỏ/ đường lầy. Những tiếng thơ êm dịu gieo vào lòng con người những cảm giác vấn vương, nhớ thương khó tả. Bài thơ ngắn mà gợi nhớ, thương, gợi buồn và gợi cả những điều hi sinh cao cả.

Câu 4: Học sinh lựa chọn và chỉ ra chi tiết mà mình tâm đắc cụ thể là gì, sau đó phân tích một cách chi tiết và cụ thể, sử dụng ngôn ngữ một cách rõ ràng, trong sáng, thuyết phục.

Giáo viên không cho điểm đối với những bài chi phân tích một cách chung chung những chi tiết mà không rút ra được chi tiết nào cụ thể

Đề 18: Đề đọc hiểu văn bản Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh- Nguyễn Nhật Ánh

Đề đọc hiểu văn bản ngoài chương trình. Đọc hiểu đoạn trích Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, tác giả Nguyễn Nhật Ánh. Đề đọc hiểu được biên soạn bởi thầy Nguyễn Thế Hưng.

Đề bài : Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

Chú Đàn bảo tôi:
– Con xòe tay ra cho chú xem nào!
Tôi co những ngón tay lại, nắm thật chặt và giấu ra sau lưng:
– Tay con sạch cơ mà. Hồi sáng con đã rửa tay rồi.
Chú Đàn phì cười:
– Chú có định khám tay con đâu. Con xòe tay ra để chú xem con có mấy cái hoa tay thôi.
Đằng sau lưng, hai bàn tay tôi lỏng đi. Tôi chìa bàn tay trái ra trước mặt chú Đàn, thắc mắc:
– Hoa tay là gì hở chú?
Chú Đàn dựng mắt nhìn tôi:
– Con lớn từng này rồi mà không biết hoa tay là gì à?
Chú cầm lấy bàn tay tôi, chậm rãi giải thích:
– Hoa tay là những vân tay hình tròn ở đầu mỗi ngón tay. Hoa tay càng nhiều thì vẽ càng đẹp. Nếu con có mười cái hoa tay, con sẽ vẽ đẹp nhất lớp. Con viết chữ cũng đẹp nhất lớp.
Tôi hồi hộp nhìn chú Đàn săm soi từng ngón tay tôi. Có cảm giác như chú đang nghiên cứu những chiếc gân lá trên năm chiếc lá.
Tôi nín thở, hỏi:
– Con có mấy cái hoa tay hả chú?
Chú Đàn lắc đầu, thất vọng:
– Chẳng có cái nào hết.
Tôi lặp lại, buồn rười rượi:
– Chẳng có cái nào hết.
Trong một giây, tôi cảm thấy mắt tôi chợt tối đi. Trái tim tôi quặn thắt và rơi xuống một chỗ nào đó, rất xa, có thể là tận những đầu ngón chân.

(Nguyễn Nhật Ánh, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh)

Câu 1: Tìm vấn đề chính được đề cập trong đoạn trích trên.

Câu 2: Chỉ ra các nhân vật trong đoạn trích trên.

Câu 3: Phân tích cấu trúc ngữ pháp (theo cấu trúc Chủ – Vị) trong các câu văn sau:

Hoa tay là những vân tay hình tròn ờ đâu mỗi ngón tay. Hoa tay càng nhiêu thì vẽ càng đẹp. Nếu con có mười cái hoa tay; con sẽ vẽ đẹp nhất lớp.

Câu 4: Cảm nhận của anh/chị về sự trong sáng, ngây thơ của trẻ thơ được miêu tả trong đoạn trích.

HƯỚNG DẪN LẢM BÀI CHI TIỂT

Câu 1: Vấn đề được đề cập đến trong đoạn trích là sự việc chú Đàn xem hoa tay cho nhân vật “tôi”, thấy được sự hồn nhiên, ngây thơ của lứa tuổi.

Câu 2: Trong đoạn trích có hai nhân vật là chú Đàn và nhân vật “tôi”.

Câu 3:Học sinh phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu như sau:

Hoa tay la những vân tay hình tròn ờ đầu mỗi ngón tay.

Chủ ngữ : Hoa tay

Vị ngữ; là những văn tay hình tròn ở đâu mõi ngón tay I loa ỉu\f càn ¡ị nhiêu thì vẽ càng đẹp

Chủ ngữ 1 : Hoa tay

Vị Ngữ 1: Càng nhiều

Chủ ngữ 2 : Vẻ

Vị ngữ 2 : Càng đẹp

Nếu con có mười cái hoa tay con sẽ vẽ đẹp nhất lớp

Chủ ngữ 1 : Con

Vị ngữ 1 : Có mười cái hoa tay

Chủ ngữ 2 : Con

Vị ngữ 2 : Sẽ vẽ đẹp nhất lớp

Học sinh có thể trình bày dưới dạng sơ đồ, phân chia chủ ngũ, vị ngữ của câu.

Câu 4: Trong đoạn trích trên, tác giả thể hiện đặc điểm của một tâm hồn trẻ thơ trong sáng/ hồn nhiên. Khi nhân vật “tôi” biết được ý nghĩa của hoa tay mỗi người, nhân vật có phản ứng tôi cảm thấy mắt tôi chợt tối đi. Trái tim tôi quặn thắt và rơi xuống một chỗ nào đó, rất xa, có thể là tận những đầu ngón chân thể hiện cách nhìn của đứa trẻ về những lời dạy của người lớn. Qua đó, người đọc nhận thấy khả năng nắm bắt tâm lí vô cùng sắc sảo của nhà văn về tâm lí trẻ thơ.

Đề 19: Đề đọc hiểu đoạn thơ Việt Nam quê hương ta- Nguyễn Đình Thi

Bộ đề đọc hiểu luyện thi THPT Quốc gia môn văn,Tuyển tập đề đọc hiểu văn bản thơ ngoài chương trình. Đọc hiểu văn bản Việt Nam quê hương ta của nhà thơ Nguyễn Đình Thi.

Đề bài : Đọc văn bản sau và trả lời cân hỏi:

Việt Nam đất nước ta ơi 
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn 
Cánh cò bay lả rập rờn 
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều 
Quê hương biết mấy thân yêu 
Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau 
Mặt người vất vả in sâu 
Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn 

Đất nghèo nuôi những anh hùng 
Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên 
Đạp quân thù xuống đất đen 
Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa 
Việt Nam đất nắng chan hoà 
Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh 
Mắt đen cô gái long lanh 
Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung 

Đất trăm nghề của trăm vùng 
Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem 
Tay người như có phép tiên 
Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ 

Câu 1: Chỉ ra thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2: Chỉ ra 01 biện pháp nghệ thuật sử dụng trong đoạn trích trên,

Câu 3: Đoạn trích trên được viết bởi những phương thức biểu đạt nào? Phương thức biểu đạt đó có biểu hiện như thế nào?

Câu 4: Phân tích nội dung chính của đoạn trích trên, có học sinh viết: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là những người anh hùng trong gian khó vẫn luôn kiên cường, nhẫn nại, làm nên vẻ  đẹp của đất nước muôn đời. Hãy chi ra lỗi sai trong diễn đạt của lời phân tích đó.                                                                     ”           ■

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TIẾT

Câu 1: thể thơ lục bát.

Học sinh lưu ý chi cần chỉ ra tên gọi của thể thơ, không cần giải thích những đặc điểm của ngôn ngữ thể hiện thể’ thơ đó nếu đề bài không yêu cầu.

Câu 2: Học sinh có thể chỉ ra một trong số những biện pháp nghệ thuật sau:

Biện pháp so sánh: Tay người như có phép tiên

Biện pháp nói quá: Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên

Câu 3: Phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích là biểu cảm và miêu tả.

Biểu hiện của phương thức biếu cảm là bộc lộ cảm xúc tự hào, tâm thế hào sảng của tác giả về hình tượng đất nước.

Miêu tả khi tác giả nói về những vẻ đẹp của đất nước về cảnh vật, thiên nhiên và con người: Đó là cảnh vật Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn/ Cánh cò bay lả rập rờn/ Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều, là những tấm gương anh hùng Đấi nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên, là những người lao động làm nghề thù công Đất trăm nghề của trăm vùng/ Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem.

Câu 4: Lời phân tích Nhân vật trữ tình trong bài thơ là những người anh hùng trong gian khó vẫn luôn kiên cường, nhẫn nại, làm nên vẻ đẹp của đất nước muôn đời sai ở chỗ đã hiểu sai về bản chất của nhân vật trữ tình. Nhân vật trữ tình không phải là nhân vật được miêu tả trong tác phẩm mà là nhân vật bộc lộ những cảm xúc, tình cảm trong tác phẩm.Ở đoạn trích trên, nhân vật trữ tình là một người yêu nước, tự hào với vẻ đẹp của đất nước.

Đề 20: Đề đọc hiểu văn bản Lá Trầu cay

Bộ đề đọc hiểu ôn thi THPT quốc gia môn văn, Đề đọc hiểu văn bản thơ ngoài chương trình.

Đề bài : Đọc  đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Nửa đêm thức dậy ăn trầu
Nước trầu đưa nhớ vào sâu giấc già
Cuộc đời như bóng mây qua
Nhỏ nhoi chỉ miếng trầu là niềm vui
Bỗng nhiên trẻ lại nụ cười
Tiếc trông miếng bã vứt rồi còn ngon
Ngỡ đang độ tuổi trăng tròn
Sum suê dân dã quê vườn bấy lâu
Tương tư môi đỏ dạ sầu
Trót ăn mất một miếng trầu của anh
Bồi hồi má đỏ tóc xanh
Quả cau chạm ngõ thoắt thành tơ duyên
Miếng trầu cánh phượng khéo têm
Bao nhiêu cô Tấm làm nên hội hè

(Phạm Đình Ân, Lá trầu cay)

Câu 1: Chỉ ra thể thơ của đoạn thơ trên.

Câu 2: Trong đoạn tha trên, hình ảnh người phụ nữ hiện lên thông qua những chi tiết nào?

Câu 3: Phân tích kết cấu của đoạn thơ trên.

Câu 4: Hãy viết đoạn văn phân tích chất dân gian có trong đoạn thơ trên.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TIẾT

Câu 1: Đoạn thơ được viết bằng thể thơ lục bát.

Câu 2: Hình ảnh người phụ nữ được hiện lên thông qua những chi tiết sau: tre lại nụ cười, ngờ tuổi trăng tròn, môi đỏ dạ sầu, má đỏ tóc xanh, cô Tấm. Hình ảnh người phụ nữ này được thể hiện bằng vẻ đẹp của người phụ nữ đã có chồng nhưng nhớ lại những giây phút mới chớm tình cảm, những khoảng thời gian còn trẻ.

Câu 3: Đoạn trích có thể được phân chia thành kết cấu như sau:

Từ câu thơ đầu đến câu thơ” Nhỏ nhoi chỉ một miếng trầu là vui” : Kể về thời điểm hiện thực của nhân vật trữ tình

Từ câu thơ “Bỗng nhiên trẻ lại nụ cười ”  đến hết: Tái hiện lại thời quá khứ khi còn trẻ với những hoài niệm đáng nhớ liên quan đến miếng trầu.

Câu 4: Học sinh lưu ý về kĩ năng viết đoạn văn. Dưới đây là một gợi ý:

Đoạn trích thê’ hiện chất dân gian rất rõ nét. Trước hết, đặc điểm hình thức của đoạn trích thể hiện những đặc điểm dân gian rõ rệt ở thể thơ và ngôn ngữ. Với thể thơ lục bát của dân tộc cùng vói những hình ảnh dân dã của thôn quê như lá trầu, miếng trầu, quê vườn, chạm ngõ, tơ duyên,… đã tạo nên những hình ảnh tái hiện một cảnh mang đậm màu sắc thôn quê, mang đậm tính dân gian. Nội dung của bài thơ kế về lời tái hiện của cô gái vê thời điểm giao duyên, lấy chồng là những việc hệ trọng của đời, thế hiện tinh yêu cần tiến đến hôn nhân cũng là quan niệm của dân gian về đích đển cuối cùng của tình yêu.

Học sinh cần đảm bảo những ý trên, ngoài ra có thể đưa ra những ý kiến, những kiến giải riêng của mình. Tuy nhiên cần giải thích một cách hợp lí. Giáo viền linh hoạt cho điểm.

Đề 21: Đề đọc hiểu : Chú mèo đi học

Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu:

Mèo mèo mèo meo

Chú mèo đi học

Áo quần trắng muốt

Đôi giày xanh xanh
Chân chú bước nhanh
Bên dòng mương nhỏ.

Gặp bông hoa đỏ
Mèo mải ngắm nhìn
Gặp chú chuồn kim
Chơi trò đuổi bắt
Gặp chim sắt sặt
Gây chuyện cãi nhau
Trèo tít cành cao
Chim vù bay mất…

(Chú mèo đi học, Nguyễn Trọng Tạo)

Câu 1: Bài thơ  ngắn mang nội dung giản dị, tự nhiên từ việc sử dụng những từ ngữ của đời sống hằng ngày. Hãy chi ra những từ ngừ đó

Câu 2: Chỉ ra các từ ngữ thuộc trường từ vựng động vật cỏ trong bài thơ trên.

Câu 3: Bằng đoạn văn từ 5 – 7 câu, hãy tóm tắt nội dung chính của bài thơ.

Câu 4: Bài thơ là lời kể mang tính đầy tinh nghịch. Hãy chỉ ra những nét đặc sắc trong cách kể của tác giả qua những hình ảnh cụ thể.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TIẾT

Câu 1: Những từ ngữ mang tính đời thường của đời sống hằng ngày: Mẻo mèo mẻo meo, bước nhanh, mải ngắm nhìn, chơi trò đuối bắt, gây chuyện cãi nhau, bay mất,…

Câu 2: Các từ ngữ thuộc trường từ vựng động vật có trong bài thơ: mèo mèo mèo meo, chú mèo, chú chuôn kim, chim sắt sật, chim, baỵ, trèo,…

Câu 3: Bài thơ kế về câu chuyện đi học của một chú mèo tinh nghịch. Trong buổi đi học của mình, chú mèo không chăm chú di học một cách tập trung mà luôn nghịch ngợm với những trò chơi của mình. Đó là cuộc chơi với bông hoa đỏ, vói chú chuồn kim, với con chim sắt sặt. Nói chuyện chú mèo đi học mà mải chơi, tác giả đã ý vị nhắc nhở đến người đọc (chủ yếu là độc giả nhỏ tuổi) về ý thức cần phải chăm chú vào việc học hành của mình,

Học sinh cần đảm bảo những ý trên, ngoài ra có thể đưa ra những ý kiến, những kìễn giải riêng của mình. Tuy nhiên cần giải thích một cách hợp lí.

Cảu 4: Dưới dây là một gợi ý:

Tác giả sử dụng nhũng hình ảnh mang tính chất tinh nghịch để thể hiện sự ham chơi của chú mèo, sự thờ ơ của chú đối với việc đi học của mình. Cụ thể là một số hình ảnh như: bông hoa đỏ, chú chuồn kim, chim sắt sật với  những hành động như ngắm nhìn hoa chơi trò đuổi bắt với chú chuồn chuồn, gây chuyện cãi nhau vói chú chim sắt sặt. Mỗi hành động của chú mèo đều thể hiện sự hồn nhiên, ngây thơ, tinh nghịch của chú .Thái độ của tác giả đối với chú mèo là thấu hiểu những đặc điểm tính cách của trẻ thơ tuy nhiên bài thơ lại là lời nhắc nhở sâu sắc đối với những đoi tượng còn nhỏ đang trong giai đoạn hình thành nhân cách cúa mình.

Đề 22: Bài tập đọc hiểu văn bản Phố ta- Lưu Quang Vũ

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

Phố của ta
Phố nghèo của ta
Những giọt nước sa
Trên cành thánh thót
Lũ trẻ lên gác thượng
Thổi bay cao bao bong bóng xà phòng.

Em chờ anh trước cổng
Con chim sẻ của anh
Con chim sẻ tóc xù
COn chim sẻ của phố ta
Đừng buồn nữa nhá
Bác thợ mộc nói sai rồi
Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa
Tại sao cây táo lại nở hoa
Sao rãnh nước trong veo đến thế?
Con chim sẻ tóc xù ơi
Bác thợ mộc nói sai rồi.

Lưu Quang Vũ – Phố ta

Câu 1 : Chỉ ra những từ ngữ được lặp tại nhiều lần trong đoạn trích trên.

Câu 2 : Trong đoạn trích trên, tác giả đi miêu tả con phố với những thứ gì?

Câu 5: Con chim sẻ   được nhắc đến trong đoạn trích là gì?

Câu 4:Đoạn trích trên đưa đến cho anh (chị) suy nghĩ gì về lời tâm sự của tác giả?

HƯỞNG DẪN LÀM BÀI CHI TIẾT

Cau 1 : Học sinh chỉ cần  ra những từ ngừ được lặp lại trong tác phẩm, không cần phân tích nghĩa của n

Phố của ta, Con chim sẻ, tóc xù, Bác thợ mộc nói sai rồi

Câu 2 : Đoạn trích tái hiện hình ảnh con phố với những sự vật và con người sau: Những giọt nước, lũ trẻ bên gác thượng, con chim sẻ của anh.

Câu 3 ‘Con chim sẻ” trong đoạn trích trên là hình ảnh ẩn dụ gọi tên một nhân vật cụ thể, người đọc có  nhiều liên tưởng đến ý nghĩa của hình ảnh này. Đó có thể  là hình ảnh một cô gái  tóc xù nhỏ nhắn, xinh xắn, hoặc đó cóthể là tên gọi thân mật mà nhân vật được gọi bởi người tình của mình. Đoạn trích miêu tả con phố nhưng chỉ là cái cớ, là lí do để anh chàng trong đoạn trích thể hiện lời tâm sự, lời thanh minh với người tình của mình.

Học sinh có thể  bộc lộ suy nghĩ của mình, kiến giải riêng của mình, miễn là giải thích một cách thấu đáo, hợp li thì giáo viên vẫn cho điểm theo thang điểm đã cho.

Câu 4 : Dưới đây là một gợi ý

Đoạn trích trên  là lời tâm sự của tác giả, lời thanh minh của tác giả với người tình của mình rằng Bác thợ mộc nói sai rồi. Từ chuyện kể về cảnh vật phố phường, anh chàng gửi gắm lời giải thích vói cô gái được gọi là “con chim sẻ tóc xù”.  Câu “Bác thợ mộc nói sai rồi” được lặp lại như để nhấn mạnh điều đó.

Đề 23: Đề đọc hiểu văn bản Cánh đồng bất tận

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu

Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng. Và khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi này. Những cây lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn.

Cha tôi tháo cái khung tre chắn dưới sàn ghe, bầy vịt lúc nhúc chen ra, cuống quýt, nháo nhào quẫy ngụp xuống mặt nước váng phèn. Một lớp phèn mới, vàng sẫm quánh lại trên bộ lông của những con vịt đói, nhớp nháp bám trên vai Điền khi nó trầm mình bơi đi cặm cọc, giăng lưới rào bầy vịt lại. Tôi bưng cái cà ràng lên bờ, nhóm củi.[…]

Cánh đồng không có tên. Nhưng với tôi và Điền, chẳng có nơi nào là vô danh, chúng tôi nhắc, chúng tôi gọi tên bằng những kỷ niệm mà chúng tôi có trên mỗi cánh đồng. Chỗ chị em tôi trồng cây, chỗ Điền bị rắn cắn, chỗ tôi có kỳ kinh nguyệt đầu tiên… Và mai này khi trôi dạt đến một nơi nào khác, nhắc đến cánh đồng này với cái tên của chị, chắc chúng tôi sẽ xốn xang.

(Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận)

Câu 1: Trong đoạn trích có rất nhiều hình ảnh tái hiện những kỉ niệm. Hãy chỉ ra ý nghĩa của những kỉ niệm đó.

Câu 2: Chỉ ra màu sắc Nam Bộ có trong ngôn ngữ của đoạn trích trên.

Câu 3: Hãy chỉ ra hoạt động xuyên suốt được miêu tả trong tác phẩm.

Câu 4: Theo tác giả, những điều đơn giản nhất cũng trở thành những kỉ niệm vô cùng đáng nhớ. Anh (chị) hãy chỉ ra quan điểm đó trong đoạn trích._

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TIẾT

Câu 1. Những kỉ niệm được nhắc đến trong đoạn trích là kỉ niệm hai chị em trồng cây ,việc Điền bị rắn cắn, việc nhân vật “tôi” có kỳ kinh nguyệt đầu tiên… Mỗi kỉ niệm gắn liền với một nơi cụ thể trên cánh đồng đó, khiến nhân vật trữ tình luôn nhớ đến mảnh đất quê hương này.

Câu 2: Màu sắc Nam Bộ được thể hiện từ nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.

Về nội dung: Đoạn trích là lời tâm sự chân thành, tha thiết của một cô gái về mảnh đất nơi cô và gia đình cô sinh sống, nó ghi lại dấu ấn những kỉ niệm của tác giả. Những cảnh vật của Nam Bộ như con kênh, cái ghe, cái cà ràng,…

Về hình thức: Đoạn trích sử đụng nhiều từ ngữ của Nam Bộ như con kinh, cha tôi.

Học sinh cần chỉ ra đầy đủ những ý cơ bản như trên thì mới cho điểm tối đa. Ngoài ra có thể đưa ra những kiến giải riêng của mình, giáo viên vẫn cho điểm khuyến khích nếu kiến giải đó chính xác, hợp lí.

Câu 3: Trong đoạn trích, hoạt động được miêu tả xuyên suốt là những công việc đồng áng quen thuộc, những hoạt động này thể hiện tính chân thật, chất phác của con người Nam Bộ.

Câu 4: Học sinh trình bày theo những cảm nhận riêng của mình, về cơ bản cần đảm bảo một số ý sau:

Trong đoạn trích có nhắc đến những kỉ niệm, mỗi kỉ niệm lại gắn bó với con người bằng dấu ấn in lên một không gian quê hương quen thuộc nào đó. Đó là chỗ chị em tôi trồng cây, chỗ Điền bị rắn cắn, chỗ tôi có kỳ kinh nguyệt đầu tiên… Và mai này khi trôi dạt đến một nơi nào khác, nhắc đến cánh đồng này với cái tên của chị, chắc chúng tôi sẽ xốn xang. Đối với nhân vật trữ tình, chẳng có nơi nào là vô danh, chúng tôi nhắc, chúng tôi gọi tên bằng những kỷ niệm mà chúng tôi có trên mỗi cánh đồng, tất cả đều có ý nghĩa, đều trở thành  điều mà tác giả in sâu trong lòng.

Đề 24: Đề đọc hiểu văn bản Người thầy đầu tiên

Đề đọc hiểu Ngữ văn 12. Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Trong làng tôi không thiếu gì các loại cây, nhưng hai cây phong này khác hẳn: chúng có 1 tiếng nói riêng và hẳn phải có một tâm hồn riêng, một tâm hồn chan chứa những lời ca êm 1 dịu. Dù ta có tới đây vào lúc nào, ban ngày hay ban đêm, chúng vẫn nghiêng ngả thân cây, lay động lá cành, không ngớt tiếng rì rào theo nhiều cung bậc khác nhau. Có khi tưởng chừng như một làn sóng thuỷ triều dâng lên vỗ vào bãi cát, có khi lại nghe như một tiếng thì thầm thiết tha nồng thắm chuyên qua lá cành như một đám lửa vô tình, có khi hai cây phong bỗng im bặt một thoáng, rồi khắp lá cành lại cất tiếng thở dài một hơi như thương tiếc người nào. Và khi mây đen kéo đến cùng với bão giông, xô gãy cành, tỉa trụi lá, hai cây phong nghiêng ngả tấm thân dẻo dai và reo vù vù như một ngọn lửa bốc cháy rừng rực. Và trong tiêng gầm bất khuất của chúng ngõ chừng như nghe thấy một lời thách thức ngỗ ngược: “Không, đừng hòng bắt ta phải khom lưng khuất phục, đừng hòng bẻ gãy thân ta”.

Bao nhiêu năm qua. Sau này, tôi đã hiểu được đieu bí ẩn của hai cây phong. Chẳng qua đứng trên đồi cao lộng gió nên đáp lại bất kì chuyển động khe khẽ nào của không khí, mỗi chiếc lá nhỏ đều nhạy bén đón lấy mọi làn gió nhẹ thoảng qua.

(Tchinguiz Aimatov, Người thầy đầu tiên)

Câu 1: Chỉ ra các đại từ nhân xưng trong đoạn trích.

Câu 2: Những từ ngữ miêu tả âm thanh được tạo ra từ những cây phong được xuất hiện nhiều lần trong đoạn trích. Chỉ ra những lần âm thanh đó xuất hiện.

Câu 3: Chỉ ra những danh từ thuộc trường từ vựng cây cối có trong đoạn trích trên.

Câu 4: Vẻ đẹp của hai cây phong được thể hiện như thế nào?

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TIẾT

Câu 1: Các đại từ nhân xưng có trong đoạn trích trên là: tôi, chúng tôi, chúng, ta.

Học sinh cần chỉ ra đầy đủ các đại từ nhân xưng kể trên.

Câu 2: Hai cây phong trong đoạn trích được miêu tả bằng những âm thanh mà chúng tạo nên: không ngớt tiếng rì rào theo nhiều cung bậc khác nhau, tiếng thì thầm thiết  tha nồng thắm, bỗng im bặt một thoáng, cất tiếng  thở dài, reo vù vù.

Đề bài chi yêu cầu học sinh liệt kê các chi tiết miêu tả âm thanh, học sinh không phân tích ý nghĩa của chúng, tránh mất thời gian làm bài.

Câu 3: Học sinh liệt kê những danh từ thuộc trường từ vựng cây cối, lưu ý về từ loại của từ để tránh bị nhầm lẫn. Cụ thể là các từ sau: thân cây, lá cành, cây, cây phong, thân, cành.

Câu 4: Dưới đây là một gợi ý:

Hai cây phong được miêu tả không chỉ bằng ngòi bút tinh tế mà còn bằng một trái tim yêu thiên nhiên, yêu quê hương sâu sắc. Tình yêu tha thiết dành cho hai cây phong tuôn chảy không ngừng dưới ngòi bút tinh tế của nhà văn đã mang lại cho hai cây phong đòi sống tâm hồn phong phú như con người. Đây là bức tranh được vẽ bằng thứ ngôn ngữ đầy tính tạo hình của hội họa và tính trữ tình của thơ, của nhạc. Bên cạnh bức tranh bằng ngôn từ là một bản giao hưởng của âm thanh với đủ cung bậc buồn vui. Người viết đã phát huy cao độ trí tưởng tượng bay bổng và cảm xúc say mê nồng nhiệt của mình vào việc thể hiện vẻ đẹp lạ thường của hai cây phong. Có khi chúng thì thầm thiết tha nồng nàn, có khi chúng bỗng im bặt một thoáng, rồi khắp lá cành lại cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào. Được nhân cách hóa cao độ nên hai cây phong có tiếng nói và tâm hồn đa dạng, phong phú, cuốn hút lòng người.

Đề 25: Đề đọc hiểu văn bản Mùa thu trong tôi

Bộ đề đọc hiểu có đáp án.

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Bốn mùa trong năm thì mùa thu êm ái, nhẹ nhàng nhất. Thời tiết thật khoan khoái dễ chịu. Nắng, gió, mưa, sương đều khác ba mùa kia. Bắt đầu là nắng. Không chói chang gay gắt như mùa hè, không yếu ớt le lói như mùa đông, không ẩm ướt run rẩy như mùa xuân, nắng thu vàng rực rỡ. Nắng nhuộm vàng cả cây cối để lá vàng xao xác gió bay bay. Đi trong rừng thu, đi dưới tán cây mùa thu mà ngắm những sợi nắng vàng tơ xuyên qua kẽ lá, nghe từng tiếng lá vàng rơi, thoang thoảng tiếng chim gù xen nữa thì dẫu có sôi nổi yêu đời đến mấy cũng sẽ thấy lòng mình tự nhiên chùng xuống mà ngẫm nghĩ, mà chiêm nghiệm về cõi nhân sinh hữu hạn đời người. Đã qua rồi cái thời nông nổi vô tư. Đã để lại đằng sau những mùa hè sôi động của thời trai trẻ. Dịu dàng thế nắng thu. Và cũng mơ màng thế nắng thu. Từ lúc bình minh cho tới khi hoàng hôn buông xuống, cả ngày chỉ có nắng vàng. Bầu trời thu xanh thắm. Mây trắng nhởn nhơ bay. Tôi rất thích câu thơ “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu” của nhà thơ Hữu Thỉnh. Chiếc khăn trời này có nắng vàng nhuộm óng mà soi bóng xuống dòng sông xanh đang “dềnh dàng chở nước về xuôi” thì thật là tuyệt.

Gió mùa thu cũng khác. Se se lạnh. Man mác buồn. Không vồ vập hồ hởi như gió hạ; không tái tê, buốt giá như gió đông; cũng không nồng nàn phồn thực như gió xuân. Gió thu nhè nhẹ, thoang thoảng, như có, như không. “Gió mùa thu mẹ ru con ngủ”. Câu hát ấy, lời ru ấy thật hợp cảnh hợp tình. Còn gì đẹp hơn, thanh bình và đáng yêu hơn khi bé nằm đu đưa trong nôi, có làn gió thu mơn man bé hé môi cười, có lời ru à ơi của bà của mẹ. Chỉ nhìn cảnh đó thôi thì bao nhiêu toan tính, bon chen thường nhật, bao nhiêu tất bật cho cuộc sống mưu sinh cũng đều tan biến hết.

(Trang vắn nghệ Chủ nhật – VOV2 – Đài TNVN)

Câu 1: Tìm các vấn đề chính được đề cập trong đoạn trích trên.

Câu 2: Phân tích cấu trúc ngữ pháp (theo cấu truc Chủ – Vị) trong câu văn sau: Bố mùa trong năm thì mùa thu êm ái, nhẹ nhàng nhất.

Câu 3: Đoạn trích trên đem lại cho anh (chị) ấn tượng gì về mùa thu?

Câu 4: Viết đoạn văn vơi chủ đề: Mùa thu trong tôi.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TIÊT

Câu 1: Đoạn trích được triển khai thành hai đoạn văn, mỗi đoạn văn triển khai một ý cụ thể về nét đẹp của mùa thu so với những mùa khác trong năm. Đoạn 1 miêu tả vẻ đẹp của nắng, đoạn 2 miêu tả gió mùa thu cũng là điều đặc biệt so với các mùa khác.

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên cần đảm bảo được hai ý trong hai đoạn văn kể trên.

Câu 2: Học sinh chỉ ra các thành phần chính của câu bằng cách liệt kê như sau (có thể triển khai dưới dạng sơ đồ – gạch chân ở từ và chú thích ở dựới):

Bố mùa trong năm thì mùa thu: chủ ngữ (trong đó bộ phận Bốn mùa trong năm thì là khởi ngữ của câu) êm ái, nhẹ nhàng nhất: vị ngữ

Câu 3: Học sinh có thể trình bày theo những cảm nhận của riêng mình, dưới đây là một gợi ý:

Mùa thu trong đoạn trích được tái hiện dưới một góc nhìn tinh tế, sâu sắc về nắng và gió mùa thu. Khác với những mùa khác trong năm, nắng và gió mùa thu mang những vẻ đẹp riêng, để lại cho mỗi người những cảm nhận riêng, vẻ đẹp của nắng được tái hiện là Không chói chang gay gắt như mùa hè, không yếu ớt le lói như mùa đông, không ấm ướt run rẩy như mùa xuân, nắng thu vàng rực rỡ. Nắng nhuộm vàng cả cây cối để lá vàng xao xác gió bay bay. Đó là vẻ đẹp dịu nhẹ của nắng thu: Dịu dàng thế nắng thu. Và cũng mơ màng thế nắng thu. Từ lúc bình minh cho tới khi hoàng hôn buông xuống, cả ngày chỉ có nắng vàng. Còn gió mùa thu cũng nhẹ nhàng, hoang hoải, khiến con người không khỏi trùng lòng xuống mà cảm nhận. Đó là vẻ đẹp Không vồ vập hồ hởi như gió hạ; không tái tê, buốt giá như gió đông; cũng không nồng nàn phồn thực như gió xuân. Gió thu nhè nhẹ, thoang thoảng, như có, như không. Những vẻ đẹp ấy làm lòng người trở nên xao xuyến.

Giáo viên lỉnh hoạt cho điểm

Câu 4: Với chủ đề đã cho, học sinh viết đoạn văn theo yêu cầu với một phương thức xây dựng đoạn văn nhất định, đảm bảo yêu cầu về nội dung và hình thức viết đoạn. Đoạn văn cần đảm bảo nội dung trong sáng, thể hiện cái nhìn tự nhiên, tránh sáo rỗng, giáo điều.

Đề 26: Đề đọc hiểu Năm anh em trên một chiếc xe tăng

Bộ đề đọc hiểu có đáp án. Luyện đề chuẩn cấu trúc.

Đề bài :

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu :

Năm anh em trên một chiếc xe tăng, 
Như năm bông hoa nở cùng một cội, 
Như năm ngón tay trên một bàn tay, 
Ðã xung trận cả năm người như một. 

Vào lính xe tăng anh trước anh sau, 
Nết ăn ở người thì lạnh, nóng, 
Khi đã hát hòa cùng một giọng, 
Một người đau tất cả quên ăn. 

Năm anh em mỗi đứa một quê, 
Ðã lên xe là cùng một hướng, 
Đã lên xe là chung khổ sướng, 
Trước quân thù nhất loạt xông lên. 

Năm anh em mang năm cái tên, 
Đã lên xe không còn tên riêng nữa, 
Trên tháp pháo một ngôi sao màu lửa, 
Năm quả tim một nhịp đập dồn. 

Một con đường đất đỏ như son, 
Một màu rừng xanh bạt ngàn hy vọng, 
Một ý chí bay ra đầu ngọn súng, 
Một niềm tin nghiến nát mọi quân thù

(Hữu Thỉnh -Trên một chiếc xe tăng)

Câu 1: Bài thơ nhắc đến vẻ đẹp của tình đồng đội. Chỉ ra 01 bài thơ đã học trong chương trình có nội dung tương tự.

Câu 2: Từ ngữ nào được lặp lại nhiều lần nhất trong đoạn trích trên? Việc lặp đi lặp lại như vậy có ý nghĩa như thế nào?

Câu 3: Chỉ ra 01biện pháp nghệ thuật sử dụng trong đoạn trích trên.

Cầu 4: Phân tích nội dung chính của đoạn trích trên, có học sinh viết: Đoạn trích thể hiện vẻ đẹp tình quân dân keo sơn gắn bó ruột thịt. Hãy sửa lại lỗ sai trong diễn đạt của lời phân tích đó.

HƯỚNG  DẪN LÀM  BÀI CHI  TlỂT

Câu 1: Học sinh có thể liên hệ đến những bài thơ sau: Đồng chí (Chính Hữu), Tây Tiến (Quang Dũng),Việt Bắc (Tố Hữu), Bài thơ về  tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật).

Học sinh chỉ cần chỉ ra một trong số các bài thơ trên.

Câu 2: Từ ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần trong đoạn trích: năm anh em.

Tác dụng: Nhấn mạnh hình ảnh những người chiến sĩ giản dị, đòi thường trong cuộc sống hằng ngày nhưng trong chiến đấu thì trở nên vô cùng đoàn kết, mạnh mẽ. Bên cạnh đó, việc lặp lại như vậy cũng tạo nên nhịp điệu lặp đi lặp lại cho đoạn trích như thể tiếng bước chân đều đặn, hùng dũng của những người chiến sĩ.

Câu 3: Học sinh chỉ cần chỉ ra một biện pháp nghệ thuật cụ thể và biểu hiện của nó trong những câu thơ. Dưới đây là một số gợi ý:

Biện pháp điệp ngừ: Năm anh em

Biện pháp so sánh: Như năm bông hoa nở cùng một cội, Như năm ngón tay trên một bàn tay. Biện pháp nái quá: Một ý chí bay ra đầu ngọn súng,Một niềm tin nghền nát mọi quân thù.

Câu 4: Lời phân tích của học sinh sai về kiến thức cơ bản, tình cảm được nhắc đến ở đây không phải là tình quân dân mà là tình đồng đội. Tình cảm đó cũng không phải tình cảm ruột thịt mà là tình cảm của những con người xa lạ, họ gặp nhau trên cùng một chiến trường và có tình cảm với nhau. Cách diễn đạt “keo sơn gắn bó” không phù hợp với việc miêu tả tình đồng đội mà chủ yếu sử dụng đế thế hiện tình cảm anh em trong gia đình. Cần sửa lại như sau: Đoạn trích thể hiện vẻ đẹp tình đồng đội sâu sắc.

Đề 27: Đề đọc hiểu có đáp án: Những ngôi sao xa xôi

Bộ đề đọc hiểu có đáp án. Đọc hiểu văn bản Những ngôi sao xa xôi _ Lê Minh Khuê.

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Chúng tôi có ba người. Ba cô gái. Chúng tôi ở trong một cái hang dưới chân cao điểm. Con đường qua trước hang, kéo lên đôi, đi đêh đâu đó, xa! Đường bị đánh lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn. Hai bên đường không có lá xanh. Chỉ có những thân cây bị tước khô cháy. Những cây nhiêu rễ nằm lăn lóc. Những tảng đá to. Một vài cái thùng xăng hoặc thành ô tô méo mó, han gỉ nằm trong đất.

Việc của chúng tôi là ngồi đây. Khi có bom nổ thì chạy lên, đo khối lượng đất phải lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phả bom. Người ta gọi chúng tôi là tổ trinh sát mặt đường. Cái tên gợi sự khát khao làm nên những sự tích anh hùng. Do đó, công việc cũng chẳng đơn giản. Chúng tôi bị bom vùi luôn. Có khi bò trên cao điểm về chỉ thấy hai con mắt lấp lánh. Cười thì hàm răng trắng loá trên khuôn mặt nhem nhuốc. Những lúc đó, chúng tôi gọi nhau là “những con quỷ mắt đen”.

Đơn vị chăm chúng tôi ra trò. Có gì lại bảo “Để cho bọn trinh sát, chúng nó ở trên đó vắng”.

(Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi)

Câu 1: Những nhân vật trong đoạn trích được gọi vói những cái tên khác nhau. Hãy chỉ ra những tên gọi đó.

Câu 2: Chỉ ra phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích trên. Những biểu hiện nào khiến anh (chị) nhận ra phong cách ngôn ngữ đó.

Câu 3: Giải thích ý nghĩa của các cụm từ sau: “cao điểm”, “han gỉ”.

Câu 4: Vẻ đẹp của các nữ thanh niên xung phong được tác giả thể hiện như thế nào?

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TIẾT

Câu 1: Các cô gái mở đường được gọi bằng những từ ngữ sau: ba cô gái, tổ trinh sát mặt đường, những con quỷ mắt đen, bọn trinh sát.

Câu 2: Đoạn trích được viết bằng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, điều này thể hiện ỏ tính cá thể, tính truyền cảm và tính hình tượng có trong ngôn ngữ của nhà văn.

Câu 3: Học sinh giải thích được các từ như sau: “cao điểm” là địa điểm quan trọng, là nơi tập trung bắn phá của máy bay địch, là nơi các cô gái thực hiện nhiệm vụ. “han gỉ” là tình trạng hư hỏng của các vật bằng kim loại ở trong những điều kiện ẩm ướt, trong đoạn trích là những thùng xăng hoặc thành ô tô.

Câu 4: Đoạn trích viết vê cuộc sống chiến đấu của tổ trinh sát mặt đường trên con đường chiến lược Trường Sơn thời đánh Mỹ. Tổ trinh sát mặt đường gồm có ba cô thanh niên xung phong ở trong mọt hang dưới chân cao điểm. Ở đó, máy bay giặc Mĩ đánh phá dữ dội. Đường bị đánh “lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn”. Tưởng như sự sống bị hủy diệt: “không có lá xanh” hai bên đường, “thân cây bị tước khô cháy”. Có biết bao thương tích vì bom đạn giặc: những cây rễ nằm lăn lóc, ngổn ngang những hòn đá to, một vài cái thùng xăng hoặc thành ô tô méo mó, han gỉ nằm trong đất. Công việc của họ vô cùng nguy hiểm và gian khổ. Khi có bom nổ thì chạy đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ, phá bom.Cùng chung một tổ, cùng trải qua cuộc sống đầy những khó khăn, hiểm nghèo, họ đã trở thành những con người dũng cảm, can trường, coi những việc đếm bom, phá bom… chỉ là những công việc bình thường hàng ngày. Đó là những người có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, trở thành những nét đẹp sẽ không bao giờ phai mờ trong tâm trí những người con sau này được sống trong hòa bình, hạnh phúc.

Học sinh cần chỉ ra đầy đủ những ý cơ bản như trên thì mới cho điểm tối đa. Ngoài ra có thể đưa ra những kiến giải riêng của minh, giáo viên vẫn cho điểm khuyến khích nếu kiến giải đó chính xác, hợp lí.

Đề 28:

Đề đọc hiểu có đáp án : Câu chuyện về Tình Phụ tử

Tuyển tập đề đọc hiểu ngữ văn lớp 10-11-12.

Đề đọc hiểu chuẩn cấu trúc.

Đề bài : Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu :

Gần một tháng trôi qua kể từ ngày con chào đời, bố vẫn nhớ như in cảm giác ngày hôm đó, ngày cả gia đình lo lắng đến trào nước mắt vì mẹ vỡ ối khi con mới 32 tuần tuổi. Lần đầu tiên trong đời bố hiểu thế nào là tột cùng nỗi lo.

Bố muốn kể cho con nghe tất cả, để con biết hành trình đến với cuộc đời của con là biết bao công sức, nỗ lực, tình yêu của mẹ và cả gia đình mình. Bố kể để sau này con biết con đã mạnh mẽ thế nào, đã vượt qua cuộc chiến đầu tiên trong đời đáng nhớ ra sao. Cả nhà yêu con vô cùng, chàng chiến binh dũng cảm của bố.

Con ạ, ngày hôm đó, nhận được điện thoại của bà ngoại, bố phi như bay vào bệnh viện, trong lòng nóng như lửa đốt. Nhìn thấy mẹ con đau đớn, tay bám chặt ông nội, thều thào nói: “Bố ơi, con đau quá”, tim bố như thắt lại. Bố chỉ biết chạy đến bên mẹ, cầm tay mẹ, động viên mẹ vài câu trước khi mẹ được đẩy vào phòng chờ sinh.

Bác sĩ nói phải mổ bắt con … sức khỏe mẹ yếu, sợ trường hợp xấu xảy ra. Nghe bác sĩ nói mà bà nội, bà ngoại, đều rơi nước mắt … lo lắng… Mọi người cứ nghĩ phải 2 tháng nữa con mới chào đời. Hôm đó còn là ngày dạm ngõ bác con, mẹ con còn định mặc quần áo thật đẹp…

Bố cố gắng kìm nước mắt lại nhưng trong đầu trống rỗng, quay cuồng. Lúc ấy bố chỉ ước mình được đau thay mẹ, bố tự trách bản thân sao không thể làm được điều gì đó cho hai mẹ con. Bố còn tự hứa sẽ đánh đổi mọi thứ chỉ để hai mẹ con được bình an.

Lúc đó mẹ con đã trải qua một ca phẫu thuật đứng giữa ranh giới của sự sống cái chết, mẹ con vẫn chọn con, luôn luôn nói hãy cứu con. Mẹ vào phòng mổ 20 phút thì cô y tá gọi cho bà ngoại, bà sợ đến nỗi không dám bật điện để nghe, bà bật to lên cho cả nhà đang trông ngóng: Em bé ra đời rồi, con trai, 2,2 kg.

Bố oà khóc. Cả nhà chạy mấy tầng vòng vèo để đến khoa sinh non thiếu tháng gặp con, thân hình bé nhỏ đôi mắt đen láy, phổi thì dô, thở khó khăn phải bế trên tay để hít oxi. Nhưng đó là hình ảnh thiên thần có thật trên đời của bố, mà bố từng nhìn thấy.

( Hải Nam, từ Internet)

Câu 1: Chỉ ra đặc điểm của phương thức tự sự có trong đoạn trích trên.

Câu 2: Chi ra phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích trên. Những biểu hiện nào khiến anh (chị) nhận ra phong cách ngôn ngữ đó.

Câu 3: Các câu văn: Bác sĩ nói phải mổ bắt con … sức khỏe mẹ yếu, sợ trường hợp xấu xảy ra. Nghe bác sĩ nói màbà nội, bà ngoại, đêu rơi nước mắt …lo lắng còn thiểu quan hệ từ. Hãy điền quan hệ từ thích hợp vào chỗ trống và chỉ ra quan hệ từ đó tạo nên quan Ịhệ gì giữa các câu trong đoạn.                                                                           Câu 4: Từ đoạn trích trên, hãy viết đoạn văn ngắn về ý nghĩa của tình phụ tử.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TIẾT

Câu 1: Để làm được đề bài này, học sinh cần hiểu bản chất của các phương thức biểu đạt trong văn bản.

Đoạn trích là lời kể của người bố về việc người con được ra đời như thế nào, có những sự việc cụ thể nào xảy ra, thể hiện những tâm sự thầm kín trong lòng của người bố.

Học sinh kể lại những sự việc xảy ra theo trình tự xuất hiện trong đoạn trích, thao tác này chính là việc chỉ ra đặc điểm của phương thức tự sự.

Câu 2:phong cách ngôn ngữ  của đoạn trích trên là phong cách sinh hoạt vì đoạn trích là lời kể lại một cách sinh động, linh hoạt về những sự việc cũng như những cảm xúc xảy ra. Những biểu hiện của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt thể hiện trước hết ở những lời văn mà tác giả sử dụng đều là những từ ngữ của đời sống hằng ngày, như một cách ghi lại nhật kí những việc và cảm xúc đã diễn ra.

Học sinh tự chỉ ra những biểu hiện cụ thể của những đặc điểm này trong đoạn trích để làm sáng tỏ ý kiến của mình. Giáo viên linh hoạt cho điểm.

Câu 3: Học sinh điền vào các quan hệ từ như sau: Bác sĩ nói phải mổ bắt con vì sức khỏe mẹ yếu, sợ trường hợp xấu xảy ra. Nghe bác sĩ nói mà bà nội, bà ngoại, đều rơi nước mắt vì lo lắng. Mối quan hệ mà các quan hệ tạo nên: nguyên nhân – kết quả.

Câu 4: Học sinh trả lòi theo cách hiếu và quan điểm của bản thân mình. Dưới đây là một gợi ý :

Tình phụ tử là thứ tình cảm thiêng liêng của mỗi con người. Tình cảm đó theo suốt mỗi con người, nâng đỡ con ngưòi khỏi những lầm đường lạc lối. Bố là người sẵn sàng hi sinh tất cả, chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ những đứa con yêu thương của mình với một mong muốn duy nhất : là thấy con nên người và trở thành người hữu dụng. Người bố dù có gặp khó khăn đền đâu thì vẫn luôn luôn bên con, theo mỗi bước con đi từ khi chập chững cho đến khi chúng ta sức tàn lực kiệt trở về cát bụi mênh mông. Đó là thứ tình cảm trân quý, mỗi người cần nhận thức từ những điều nhỏ nhất.

Đề 29: Đề đọc hiểu có đáp án: văn bản Chữ Tín

Bộ đề đọc hiểu chuẩn cấu trúc, Tuyển tập những đề đọc hiểu môn văn có đáp án ,tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Văn 2018.

Đọc văn bản sau và trả lòi các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

(1) Quả thực, chúng ta quen thất tín đến mức, chí cần một anh nào hẹn giờ nào đến đúng giờ ấy, mượn cái gì, trả cái nấy đúng ngày, là đã được coi là… Tây! (2) Lại nữa, để ý sẽ thâỵ, đến trễ hẹn đi chơi 10 phút, người ta bỏ đi mất, thế nào ta cũng khó chịu, bảo “Thằng này khắt khe”, nhưng trên quận kêu lên giải quyết giấy tờ nhà đất, hẹn 2 giờ, 1 giờ 30 ta đã cặm cụi có mặt, thì lại coi đó là sự thường . (3) Cái thói quen thất tín vậy là cũng tùy mặt mà áp dụng, nhiều khi ta chỉ không thất tín với ta thôi. (4) Và, chính cái thói quen sai hẹn ấỵ đã đẻ ra những khoảng thời gian trừ hao – hay những khoảng chết 10 phút đến trễ, 30 phút đến sớm ấy… (5) Nó cũng đẻ ra những hành động thừa, kiểu, thằng ấy hứa chiều chở đi công chuyện, chưa chắc nó đã đi, thôi bây giờ ta thuê xe đi trước cho chắc ăn. (6) Và chiều, cái thằng ấy tự nhiên đúng hẹn, bỏ công; bỏ việc; nó đến…

(Chữ tín, Phan Thị Vàng Anh)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt của văn bản.

Câu 2: Nêu nội dung chính của văn bản.

Câu 3: Chi ra phép liên kết được sử dụng giữa câu (3) và (4) giữa câu (4) và (5).

Cầu 4: Viết đoạn văn nghị luận (5 đến 7 câu) trình bày suy nghĩ của Anh/chị về sự cần thiết của chữ tín trong cuộc sống.

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

Câu 1: Phương thức tự sự, biểu cảm, nghị luận.

Câu 2: Nội dung chính của văn bản là bàn về vấn đề chữ tín trong cuộc sống mà mọi người đã quên đi.

Câu 3: Phép liên kết được sử dụng giữa câu (3) và (4), giữa  câu (4) va (5)

  • (3) và (4): phép lặp: cái thói quen
  • (4) về (5): phép thế: Nó thay thế cái thói quen Sai hẹn.

Câu 4:

Yêu cầu: Viết được đoạn văn lí giải vì sao cuộc sống cần có chữ tín. Không lặp lại ý của tác giả trong bài viết.

Gợi ý viết đoạn:

Đoạn văn nghị luận xã hội về chữ tín

Chữ tín không chỉ thể hiện trong mối quan hệ giữa hai người.  Chữ tín trước hết phải là tín với bản thân mình . Nói được – làm được truớc hết là  tôn trọng bản thân  mình.  Khi đã tôn trọng bản thân mình thì sẽ hiểu được sự cần thiết phải giữ chữ Tín với người khác . Nhờ chữ Tín, con người  có thể sát cánh bên nhau để vượt qua mọi gian nan thử thách của cuộc đời… Và nhờ  chữ tín mà hai người yêu nhau, dù xa cách cả nửa quả địa vẫn giữ trong lòng thủy chung. Thời đại càng văn minh, mặc dù các mối quan hệ đã được bảo đảm  bảng hợp đồng, bằng giao ước, nhưng sụ giao ước quý giá nhất vần là chữ Tín trong tâm của mỗi người . Chữ tín ấy phải được bảo đảm từ những nhỏ nhặt nhất của cuộc sống. Và chính nó, sẽ đem lại một cuộc sống văn minh nhất

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here